Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By cuongtribal
#651170

Download Đề tài Phân tích cấu trúc tài chính và hoàn thiện cấu trúc tài chính tại công ty Cổ Phần XLTH Bình Định miễn phí





Cấu trúc nguồn vốn thể hiện tính tự chủ của doanh nghiệp, liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau trong công tác quản trị tài chính. Phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn đánh giá sự biến động các loại nguồn vốn của doanh nghiệp nhằm thấy được tình hình huy động, tình hình sử dụng các loại nguồn vốn đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, khả năng kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác thấy được doanh nghiệp có khả năng mở rộng hay đang có xu hướng khủng hoảng, rủi ro trong tương lai.
Nguồn vốn chủ sở hữu về cơ bản có hai bộ phận lớn: nguồn vốn vay và nguồn vốn chủ sở hữu. Mỗi cơ sở kinh doanh, đơn vị sản xuất khác nhau có một cơ cấu nguồn vốn khác nhau. Sự khác nhau đó tuỳ từng trường hợp vào tiềm lực tài chính, đặc điểm ngành nghề kinh doanh, quan điểm và chiến lược của nhà quản trị trong từng giai đoạn, thời kỳ, từ đó dẫn đến tỷ trọng nợ phải trả và tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn khác nhau. Đối với công ty cổ phần XLTH Bình Định, cơ cấu tỷ trọng hai bộ phận này được thể hiện ở bảng phân tích sau:
 



++ Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay!

Tóm tắt nội dung:

y có khả năng thanh toán hiện hành tăng 0,03. Vì hệ số này lần lượt là 1,25 và 1,22 đều lớn hơn 1. Nguyên nhân hệ số này tăng là do tốc độ nợ ngắn hạn tăng nhanh hơn tốc độ tăng TSLĐ.
* Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nhanh
- Ảnh hưởng của nhân tố tiền và các khoản ĐTTC:
+ 0,022
-
=
1.706.960.243 1.412.466.390
13.433.082.610 13.433.082.610
- Ảnh hưởng của nhân tố nhân tố nợ ngắn hạn:
+ 0,003
=
-
1.706.960.243 1.706.960.243
13.128.804.727 13.433.082.610
- Tổng hợp hai nhân tố: (+0,965) + (+0,0046) = +0,025
Ta thấy khả năng thanh toán nhanh tăng 0,025 nguyên nhân chủ yếu do tăng tiền. Hệ số khả năng thanh toán nhanh nhỏ hơn 0,5 chứng tỏ việc sử dụng tiền chưa tốt gây khó khăn cho việc thanh toán nợ ngắn hạn.
Nhận xét:Qua các hệ số trên cho thấy tình hình thanh toán của công ty chưa ổn định, hệ số thanh toán tức thời, hệ số thanh toán nhanh còn thấp nguyên nhân do tiền mặt tại quỹ vẫn còn thấp, điều này xuất phát từ chính sách sử dụng tiền mặt tại quỹ của công ty. Hệ số khả năng thanh toán hiện hành hơi cao, vì vậy để tránh lãng phí vốn, công ty phải đẩy mạnh hơn nữa việc thu hồi nợ để hạn chế chiếm dụng vốn.
Bên cạnh hai khoản mục HTK, tiền và TSCĐ thì một khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản đó là khoản mục nợ phải thu. Trong ba năm qua, nợ phải thu có nhiều biến động: cụ thể, năm 2007 khoản mục các khoản phải thu tăng 2.268.815.450 đồng (tương ứng với tỷ lệ tăng 21,64%) so với năm 2006, và đến năm 2008 thì công ty có sự quản lý chặt chẽ các khoản phải thu nên giảm so với năm 2007 là 1.536.257.218 đồng (tương ứng 12,04%). Đối với ngành công nghiệp chế biến thì tỷ số các khoản phải thu trên tổng tài sản chỉ cho phép dao động từ 16-20% vậy mà công ty đã lên đến 50-60% trong năm 2008. Như vậy tình hình quản lý công nợ của công ty vẫn chưa tốt, và cần có những chính sách, biện pháp để quản lý nợ tốt hơn nữa. Do đặc thù là công ty xây dựng, nên thời gian để hoàn thành một công trình thường kéo dài, và thời gian bảo hành công trình cũng dài thường là trên một năm nên công trình hoàn thành bàn giao thì khách hàng trả tiền thường trích lại 1% giá thành để đến khi nào hết thời hạn bảo hành thì bên A mới trả nếu như không có chuyện gì xảy ra. Mặt khác, đa số các công trình xây dựng trên đều là của nhà nước, nên việc ký kết hợp đồng giữa bên A và bên B đều thông qua Ban quản lý dự án. Mà hàng năm theo kế hoạch thông báo vốn thì sẽ phân bổ cho các công trình, công trình nào được phân bổ thì mới có kế hoạch trả còn không thì phải chờ đến kế hoạch năm sau và việc phân bổ do Uỷ ban kế hoạch và Sở tài chính lên kế hoạch và trình cho Tỉnh ký duyệt.
Một mặt nữa là việc ký hợp đồng giữa hai bên trong khâu thanh toán chưa được chặt chẽ, còn có sự lỏng lẻo nên dẫn đến việc thanh toán luôn bị trì hoãn. Cụ thể trong hợp đồng có ghi về thời hạn thanh toán của một công trình như sau: “Khi khối lượng công trình đã hoàn thành được hai bên A và B xác nhận và cơ quan cấp vốn đã chuyển tiền về cho bên A thì bên A thanh toán cho bên B theo khối lượng đã thực hiện” hay “Khi khối lượng đã hoàn thành được hai bên A-B xác nhận và cơ quan cấp vốn chấp thuận, thông báo cấp phát thì bên A sẽ giữ lại số tiền bảo hành công trình theo quy định. Sau 12 tháng, khi hết thời gian bảo hành, nếu không có sự cố gì thì bên A sẽ hoàn trả tiền bảo hành cho bên B”
Mặt khác, do sự cạnh tranh gay gắt của thị trường hiện nay, nên doanh nghiệp chấp nhận cho bên đầu tư nợ trong một khoảng thời gian nhất định nào đó sẽ trả, nhưng đến thời hạn thì có những công trình trả đủ, nhưng cũng có những công trình kéo dài nợ. Ngoài các khoản mục trên thì các khoản mục như TSLĐ khác và các tài sản dài hạn khác cũng có sự biến động nhưng không đáng kể so với tổng tài sản.
Như vậy, qua việc phân tích cấu trúc tài sản cho thấy tình hình tài sản của công ty qua các năm có sự thay đổi nhưng không đáng kể. Nhìn chung tổng tài sản của công ty có tăng nhưng tập trung chủ yếu là khoản phải thu, trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là phải thu khách hàng chiếm trên 70% điều này chứng tỏ việc quản lý nợ của công ty chưa tốt, tình hình nợ của khách hàng còn kéo dài từ năm này qua năm khác. Vì vậy trong tương lai doanh nghiệp cần có những biện pháp hữu hiệu để tránh tình trạng nợ đọng kéo dài gây lãng phí vốn và ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài khoản mục phải thu tăng thì các khoản mục còn lại có xu hướng giảm hay có tăng thì cũng chỉ một lượng nhỏ, không đáng kể. Để phân tích rõ hơn ta có bảng phân tích chi tiết các khoản nợ phải thu như sau:
Bảng 2.6: Phân tích chi tiết sự biến động các khoản phải thu
ĐVT: đồng
Chỉ tiêu
2006
2007
2008
1. Phải thu khách hàng
8.586.748.906
9.467.826.225
8.593.165.357
2. Trả trước người bán
71.435.494
3. Phải thu nội bộ
1.622.180.367
3.024.587.675
2.341.299.472
4. Các khoản phải thu khác
242.022.380
259.152.790
280.844.643
5. Các khoản phải thu
10.473.562.845
12.751.566.690
11.215.309.472
6. Tỷ trọng phải thu khách hàng (%)
(6) = (1) : (5)
81,98
74,25
76,61
7. Tỷ trọng trả trước cho người bán (%) (7) = (2) : (5)
0,56
8. Tỷ trọng phải thu nội bộ (%)
(8) = (3) : (5)
15,49
23,72
20,08
9. Tỷ trọng các khoản phải thu khác (%) (9) = (4) : (5)
2,31
2,03
2,5
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán từ năm 2006 đến năm 2008-phòng Kế toán Tài vụ)
Để thấy rõ sự biến động của các khoản phải thu được minh hoạ qua biểu đồ sau:
Đồ Thị 2.3. Tỷ trọng các khoản mục trong khoản phải thu
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy được: trong khoản mục phải thu thì tỷ trọng phải thu khách hàng là chiếm tỷ trọng cao nhất. Vào năm 2006 là 81,96%, năm 2007 là 74,25%, đến năm 2008 lại tăng 76,61%. Tỷ trọng phải thu khách hàng luôn biến động nhưng đều nằm ở mức cao trên 70% so với các tỷ trọng khác. Như vậy trong khoản mục phải thu thì khoản mục phải thu khách hàng là điều mà ta quan tâm và xem xét đến nhất. Vì sự tăng hay giảm của khoản mục phải thu khách hàng cũng tác động lớn đến khoản mục phải thu và cũng làm cho khoản mục phải thu tăng hay giảm so với tổng tài sản. Qua bảng số liệu ta thấy tình hình phải thu khách hàng năm 2006 là không khả quan nhất chiếm đến 81,98%, trong năm này khoản phải thu khách hàng chiếm rất cao điều này cho thấy trong năm đó một lượng lớn vốn đã bị các tổ chức và cá nhân khác chiếm dụng, và việc quản lý khoản phải thu trong năm chưa tốt. Nhưng tình hình đó đã được cải thiện trong năm 2007 chỉ còn 74,25% nhưng sang năm 2008 thì tình hình không khả quan lắm tỷ trọng phải thu khách hàng tăng lên 76,61% . Mặt khác nhìn vào tỷ trọng phải thu nội bộ thì ta thấy sự dao động của nó hoàn toàn ngược lại với tỷ trọng phải thu khách hàng như vậy vấn đề gây ảnh hưởng đến cấu trúc phải thu ở đây chỉ nằm ở hai tỷ trọng này. Như vậy lý do nào để hai tỷ trọng này lại có sự biến động trái ngược nhau? Vì trong hoạt động kinh doanh của công ty, việc khách hàng nợ đọng kéo dài gây cho công ty rất nhiều tổn thất về vốn, nợ kéo dài sẽ làm cho công ty thiếu vố...
Kết nối đề xuất:
Nơi này có anh English Lyrics
Synonym dictionary
Advertisement
Advertisement