levelpro125

New Member
Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết Nối

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đã và đang hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế Thế giới. Việc tham gia các tổ chức kinh tế, đặc biệt là WTO đã tạo cho Việt Nam những cơ hội cũng như thách thức không nhỏ. Trong nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh cao đó, các doanh nghiệp Viêt Nam muốn tồn tại và phát triển thì ngoài việc tổ chức tốt công tác quản lý, ổn định sản xuất thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hành hoá, dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm đóng vai trò rất quan trọng. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất thì biện pháp đầu tiên và quyết định là tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành mà vẫn đảm bảo chất lượng của sản phẩm. Do đó công tác hạch toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp là rất quan trọng. Việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành một cách khoa học, hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp sẽ cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin chính xác, kịp thời về tình hình sản xuất của doanh nghiệp, giúp họ đưa ra những quyết định sản xuất kinh doanh hợp lý và hiệu quả, giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Đây cũng là khâu trọng tâm trong công tác kế toán ở các doanh nghiệp sản xuất, luôn được quan tâm và chú trọng.
Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng là đề tài được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu song vẫn còn những điểm chưa sáng tỏ.
Thực tiễn tổ chức kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp hiện nay còn nhiều bất cập. Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần Hapaco Yên Sơn, em nhận thấy công tác tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty còn một số vấn đề chưa hoàn thiện. Xuất phát từ sự cần thiết cả về lý luận và thực tiễn nêu trên,với sự giúp đỡ của các cán bộ, nhân viên phòng Tài chính-Kế toán của Công ty và sự hướng dẫn của Thạc sỹ Hoàng Thị Ngà, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Hapaco Yên Sơn” làm khoá luận.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa những kiến thức chung nhất về công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
- Nắm bắt được thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Hapaco Yên Sơn.
- Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Hapaco Yên Sơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận trình bày kết quả nghiên cứu về đối tượng nêu trên trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể, đó là Công ty cổ phần Hapaco Yên Sơn.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài góp phần làm rõ, cụ thể hơn lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
- Áp dụng kết quả nghiên cứu của đề tài để nâng cao hiệu quả tổ chức kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành tại Công ty cổ phần Hapaco Yên Sơn. Kết quả này còn có thể được ứng dụng trong các doanh nghiệp có đặc điểm tương tự với đơn vị thuộc phạm vi nghiên cứu.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng về tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Hapaco Yên Sơn.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Hapaco Yên Sơn.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1. Khái niệm, bản chất và phân loại chi phí sản xuất
1.1.1. Khái niệm về chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất là hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cùng các chi phí khác để sản xuất chế tạo sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanh nghiệp đã bỏ, ra biểu hiện bằng tiền cho quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
1.1.2. Bản chất của chi phí sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường, các chi phí trên đều được đo lường, tính toán bằng tiền, gắn với thời gian nhất định. Độ lớn của chi phí sản xuất là một đại lượng xác định phụ thuộc vào hai nhân tố chính:
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao vào sản xuất sản phẩm trong một thời gian nhất định
- Giá cả tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền lương của một đơn vị lao động đã hao phí.
Vì vậy: thực chất của chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn, chuyển dịch giá trị của các yếu tố đầu vào tập hợp cho từng đối tượng tính giá thành.
1.1.3. Phân loại chi phí sản xuất.
1.1.3.1. Phân loại chi phí sản xuất ở góc độ kế toán tài chính
(1) Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Theo tiêu thức này thì toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành 5 yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ, nhiên liệu, động lực…sử dụng vào sản xuất (loại trừ giá trị không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
- Chi phí nhân công: phản ánh tổng số tiền lương và các khoản trích theo lương phải trả công nhân viên sản xuất.
- Chi phí khấu hao: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất trong kỳ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất.
- Chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ.
Các yếu tố chi phí phân loại theo cách này có thể thay đổi tăng, giảm còn tùy thuộc theo yêu cầu quản lý các chi phí cũng như tùy thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể về hoạt động sản xuất của mỗi doanh nghiệp.
(2). Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí.
Căn cứ vào tiêu thức này thì toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành 3 khoản mục chi phí:
- Chi phí NVL trực tiếp: Chi phí NVLTT là những chi phí về NVL chính, vật liệu phụ, nửa thành phẩm mua ngoài, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện cung cấp lao vụ dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương công nhân trực tiếp thực hiện quy trình sản xuất, các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản xuất của công nhân trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Tỷ lệ các khoản trích tuỳ từng trường hợp vào quy định hiện hành.
- Chi phí sản xuất chung: bao gồm những chi phí sản xuất còn lại tại phân xưởng như chi phí nhân viên, chi phí nguyên vật liệu phục vụ chung ở phân xưởng, chi phí khấu hao, chi phí khác bằng tiền,… Chi phí sản xuất chung có thể định nghĩa bao gồm tất cả các chi phí không thuộc hai loại chi phí trên phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản xuất.
1.1.3.2. Xét ở góc độ kế toán quản trị thì chi phí sản xuất được phân loại theo các tiêu thức chủ yếu sau:
(1) Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với mức độ hoạt động, chi phí sản xuất được chia thành
- Biến phí (chi phí biến đổi): là chi phí có sự thay đổi tỷ lệ thuận về tổng số khi có sự thay đổi về tổng mức độ hoạt động (số lượng sản phẩm hoàn thành, số giờ máy chạy, số km hoạt động hay doanh thu bán hàng…)
Để phục vụ cho quản trị doanh nghiệp biến phí còn chia thành biến phí tỷ lệ và biến phí không tỷ lệ trực tiếp.
- Định phí (chi phí cố định): là những chi phí mà tổng số không thay đổi theo sự thay đổi về mức độ hoạt động tức là chỉ có thể thay đổi chi phí tính cho một đơn vị khối lượng hoạt động.
Định phí được chia thành định phí tuyệt đối và định phí tương đối, ngoài ra, có thể chia định phí thành định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc.
- Chi phí hỗn hợp: là chi phí mà nội dung của chúng chứa đựng cả yếu tố định phí và yếu tố biến phí.
Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này giúp các nhà quản trị doanh nghiệp dễ dàng thiết kế, xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng hoạt động và lợi nhuận, xác định điểm hòa vốn, giảm thấp các chi phí không cần thiết vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận theo đúng đường hướng phát triển của doanh nghiệp đặc biệt là với việc ra quyết định ngắn hạn.
(2) Phân loại chi phí sản xuất theo thẩm quyền ra quyết định.
Để phục vụ cho việc ra quyết định, người ta chia chi phí sản xuất thành:
- Chi phí sản xuất được kiểm soát: là những chi phí sản xuất mà một cấp quản lý nào đó được phân cấp quyền ra quyết định trong việc quản lý và sử dụng chúng.
- Chi phí sản xuất không kiểm soát: là những chi phí sản xuất mà một cấp quản lý nào đó không có quyền ra quyết định trong việc quản lý và sử dụng chúng.
(3) Phân loại chi phí sản xuất cho việc lựa chọn phương án.
- Chi phí cơ hội: là lợi ích kinh tế bị mất đi do việc lựa chọn phương án này thay vì lựa chọn phương án khác.
- Chi phí chênh lệch: là những chi phí có ở phương án này nhưng không có hay chỉ có một phần ở phương án khác.
3.1.2.2 Hạn chế trong quản lý và hạch toán chi phí sản xuất, giá thành ở Công ty.
Bên cạnh những ưu điểm mà Công ty đã đạt được trong công tác kế toán nói chung và công tác kế toán chi phí giá thành sản xuất nói riêng còn tồn tại những hạn chế sau:
- Tại Công ty, công tác hạch toán kếtoán còn thực hiện thủ công. Bên cạnh đó, việc tính giá thành sản phẩm theo quý làm công việc dồn vào cuối quý nhiều, khối lượng công việc lớn làm cho kế toán vất vả, dễ dẫn đến sai sót và không đảm bảo tính kịp thời của thông tin về chi phí sản xuất.
- Công ty không hạch toán các khoản thiệt hại trong sản xuất như thiệt hại về sản phẩm hỏng, thiệt hại ngừng sản xuất, do đó không có sự so sánh giữa các kỳ về chất lượng sản phẩm, giá trị sản phẩm hỏng ngoài định mức vẫn tính vào giá trị sản phẩm hoàn thành trong kỳ do đó đã phản ánh chưa chính xác giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
- Là doanh nghiệp sản xuất, Công ty sử dụng một khối lượng máy móc, thiết bị có giá trị lớn. Trong quá trình sản xuất máy móc, thiết bị cần được bảo dưỡng, sửa chữa khi bị hỏng để tăng năng suất, duy trì sản xuất. Hiện nay chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị của Xí nghiệp phát sinh tháng nào thì hạch toán vào tháng đó làm cho chi phí sửa chữa giữa các tháng không đồng đều, ảnh hưởng đến độ chính xác giá thành sản phẩm sản xuất ra trong tháng. Phần nguyên vật liệu tiết kiệm, sản phẩm tiết kiệm được trong quá trình sản xuất Công ty vẫn chưa đánh giá đúng để ghi giảm chi phí trong kỳ.
- Về cách ghi sổ tổng hợp: Việc kế toán lấy số liệu từ chứng từ ghi sổ để vào sổ cái tài khoản theo số liệu cụ thể, không căn cứ vào dòng tổng cộng là không hợp lý. Cách ghi như vậy làm cho việc ghi chép lặp lại không cần thiết.
- Công ty đã xây dựng định mức chi phí giao khoán cho các xí nghiệp nhằm quản lý chi phí sao cho tiết kiệm được chi phí mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm, từ đó hạ giá thành và nâng cao lợi nhuận. Tuy nhiên hệ thống định mức đó được xây dựng áp dụng cho mấy năm liền làm cho độ chính xác, tính hợp lý và tác dụng của việc xây dựng hệ thống định mức bị giảm đi nhiều.
- Về việc trích trước lương nghỉ phép của nhân viên quản lý xí nghiệp là chưa hợp lý. Lương nhân viên quản lý xí nghiệp chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong chi phí sản xuất của xí nghiệp, đồng thời việc nghỉ phép của nhân viên quản lý phân xưởng hầu như không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của phân xưởng cho nên việc trích trước lương nghỉ phép của nhân viên quản lý phân xưởng là không cần thiết và chưa hợp lý.
3.2 Sự cần thiết, yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để hoàn thiện đề tài nghiên cứu
3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện đề tài nghiên cứu
Hiện nay, xu hướng hội nhập cùng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực kế toán là một công cụ quan trọng trong công tác quản lý kinh tế, giúp các doanh nghiệp ngày càng phát triển. Chính vì vậy Nhà nước ta vẫn tiếp tục xây dựng luật, chuẩn mực và ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện công tác kết toán để có một xu hướng phù hợp với tiêu chuẩn chung của Quốc tế. Mục tiêu của Nhà nước là chỉ tạo ra khung pháp lý để các doanh nghiệp tự tìm ra và áp dụng các phương pháp hạch toán phù hợp với dặc thù của doanh nghiệp mình, đồng thời tối đa hoá khả năng sử dụng thông tin cho các đối tượng khác nhau. Dứng trước những thay đổi đó, Công ty cần hoàn thiện công tác kế toán để hòa nhập với sự phát triển chung của Thế giới và có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiêp trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó dưới sự điều tiết của các quy luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và phát triển bền vững, các doanh nghiệp luôn phải tìm mọi mọi biện pháp để khẳng định vị tri vủa mình. Vấn đề này bao trùm, xuyên suốt hoạt động sản xuât kinh doanh của doanh nghiệp. Nó phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà trong đó nhiệm vụ hàng đầu là tiết kiêm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Cùng với các biện pháp như xác định mức tiêu hao nguyên vật liệu, tận dung tối đa công suất máy móc thiết bị, bố trí lao động hợp lý, nâng cao năng suất lao động… thì việc tổ chức công tác công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra những quyết định quản lý tối ưu. Và để thực hiện tốt nhất chức năng và nhiệm vụ của mình thì kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm luôn phải tìm ra và khắc phục nhưng thiếu sót và hạn chế, phát huy những ưu điểm, thuận lợi đã có. Vì vậy việc hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là yêu cầu khách quan, cần thiết và có ý nghĩa chiến lược với sự phát triển của công ty.
3.2.2 Yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện đề tài nghiên cứu
- Đem lại hiệu quả về mặt kinh tế so với hình thức và thực trạng đang áp dụng tại doanh nghiệp.
- Những biện pháp hoàn thiện phải tuân thủ theo các quy định, chuẩn mực chung và không vi phạm pháp luật.
- Các biện pháp này phải phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp.
3.2.3 Các nguyên tắc cơ bản để hoàn thiện đề tài nghiên cứu
Việc hoàn thiện công tác tổ chức kế toán nói chung và kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng cần dựa trên những cơ sở sau:
- Thứ nhất: Đảm bảo sự phù hợp giữa đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý của doanh nghiệp với chế độ kế toán chung. Bởi vì mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm riêng, do đó vận dụng chế độ kế toán một cách linh hoạt, hợp lý trên cơ sở chức năng, nhiẹm vụ , tính chất hoạt động và quy mô của mình sẽ giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả cao trong trong công tác quản lý nói chung và công tác kế toán nói riêng.
- Thứ hai: Đảm bảo sự tuân thủ và thống nhất chặt chẽ giữa những quy định trong tổ chức kế toán Nhà nước, trong chế độ kế toán do Bộ tài chính ban hành với chế độ kế toán dặc thù của ngành sản xuất kinh doanh.
- Thứ ba: Đặc biệt sử dụng tiết kiệm và hiệu quả trong việc tổ chức công tác kế toán ở doanh nghiệp. Muốn vậy phải tổ chức công tác kế toán khoa học , hợp lý, tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của kế toán để chất lượng công tác kế toán đạt được là cao nhất với chi phí thấp nhất.
- Thứ tư: Đảm bảo thực hiện tốt chức năng thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp bởi vì mục tiêu của việc hoàn thiện công tác kế toán là cung cấp thông tin kịp thời và chính xác để nhà quản trị ra quyết định đúng đắn, tối ưu.
3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Hapaco Yên Sơn


Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

 
Last edited by a moderator:
Top