Bearach

New Member

Download miễn phí Đề tài Quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới





Trang

Lời dẫn. 1

Chương 1. Những nhân tố tác động tới đường lối đổi mới của Việt Nam 3

1.1. Tình hình thế giới những năm 80 và đầu thập kỷ 90 3

1.2. Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam sau 1975 đến 1986. 6

Chương 2. Quan hệ quốc tế của Việt Nam từ 1986 đến nay 8

2.1. Nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại đổi mới. 8

2.2. Quá trình thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới. 14

Chương 3. Triển vọng quan hệ đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI 28

3.1. Những thuận lợi và khó khăn. 28

3.2. Triển vọng của quan hệ đối ngoại của Việt Nam những năm đầu thế kỳ XXI. 30

Kết luận. 34

Danh mục tài liệu tham khảo 35

 

 





Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn.

Ketnooi -


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập, phát triển.
Việc Liên Xô sụp đổ vào 22-12-1991 đã làm chấn động thế giới vì tốc độ nhanh chóng của các sự kiện và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các Đảng cộng sản trên thế giới. Đứng trước tình hình đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ III khoá VII đã họp và đưa ra 4 phương châm xử lý trong hoạt động đối ngoại của ta là:
“Một là: Biết kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân đảm bảo lợi ích chân chính của dân tộc.
Hai là: Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá nhưng hai vế đó không hề mâu thuẫn nhau mà thực ra là thống nhất, phục vụ hỗ trợ cho nhau.
Ba là: Nắm vững hai mặt đối lập của hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế.
Bốn là: Nhìn rõ vai trò của các tổ chức khu vực, hợp tác tốt với tất cả các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn có vai trò kinh tế, chính trị cường quốc trên thế giới”.
Bốn phương châm chỉ đạo trên đưa ra vào đúng thời điểm hợp lý, kịp thời phát huy và đạt được những thành tựu tốt đẹp.
Trước những thành tựu của đường lối đối ngoại đổi mới Đại hội VI và VII, Đại hội VIII tiếp tục đường lối đối ngoại đổi mới chỉ ra đường lối chính sách đối ngoại tới mọi chủ thể trên thế giới.
Đại hội VIII chỉ rõ: “ Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệc tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
Mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, thông qua thương lượng để tìm những giải pháp phù hợp giải quyết những vấn đề tồn tại và các tranh chấp, đảm bảo hoà bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển.
Tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới. Đồng thời luôn nêu cao tinh thần đoàn kết anh em với các nước đang phát triển ở Châu á, Châu Phi, Mỹ Latinh và phong trào không liên kết.
Tăng cường quan hệ với các tổ chức của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác. Tích cực hoạt động ở các diễn đàn quốc tế, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu. ủng hộ cuộc đấu tranh loại trừ vũ khí hạt nhân và các phương tiện giết người hàng loạt khác.
Phát triển quan hệ với các Đảng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ, thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác
Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển.
Trên đây là những nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại qua từng thời kỳ tổ chức đại hội, chính sách đổi mới này được áp dụng trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động và tác động trực tiếp đến Việt Nam. Nhưng tựu chung lại đây là đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá theo tinh thầm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển.
2.2. Quá trình thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới.
Chính sách đối ngoại đổi mới mà đại hội VI đề ra là kiên trì thực hiện nhiệm vụ chiến lược giữ vững hoà bình, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi, tập trung cao nhất, nhằm từng bước ổn định và tạo cơ sở cho phát triển kinh tế trong vòng 25 năm đến 30 năm (tức đến năm 2020), xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ độc lập của tổ quốc góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đây là mục tiêu chiến lược và ích lợi cao nhất của toàn Đảng và toàn dân ta. Chính sách đối ngoại đổi mới phải góp sức mình vào sự nghiệp chung đó.
Ngay sau khi đưa chính sách đối ngoại vào thực hiện, Đảng và nhà nước đã “đưa vấn đề Campuchia ra để giải quyết bằng con đường hoà bình”. Những giải pháp đưa ra trong chính sách để giải quyết vấn đề Campuchia, đã có tác động thúc đẩy tác động đến một giải pháp chung trong vấn đề Campuchia đi đến một giải pháp hoà bình toàn diện, đến năm 1989 thì cơ bản hoàn thành bằng tuyên bố về một giải pháp chính trị toàn diện cho xung đột ở Campuchia. Việt Nam và ASEAN cùng tìm ra một giải pháp đồng bộ cho vấn đề này, từ đây 2 nhóm nước hiểu nhau hơn, tin tưởng nhau hơn. Điều đó có ý nghĩa rất to lớn trong việc mang lại ổn định an ninh cho khu vực và làm giảm nguy cơ xung đột tại khu vực Đông Nam á vốn đang tiềm tàng nhiều mâu thuẫn giữa các nước. Đây chính là thành công đầu tiên của chính sách đối ngoại đổi mới. Bắt đầu từ thành công này tình hình ở Đông Nam á được cải thiện từ đối đầu sang đối thoại, tạo xu thế hoà bình, hữu nghị, hợp tác. Với các nước Đông Nam á, nước ta chủ trương mở rộng quan hệ về mọi mặt trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hai bên cùng có lợi. Những năm qua cũng đã ghi nhận những cố gắng to lớn của nhà nước ta trong việc cải thiện quan hệ với các nước khu vực Đông Nam á - asean.
Tháng giêng năm 1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN và các nước khác trong khu vực6: Trích Lưu Văn Lai: 50 năm ngoại giao Việt Nam (1945-1995) Tập II - NXB Công an nhân dân trang 251-252
. Từ đây các cuộc đi thăm lẫn nhau của các nhà lãnh đạo cấp cao Việt Nam và của các nước ASEAN đã đạt được những thoả thuận quan trọng và đặt nền móng cho một thời kỳ mới trong quan hệ giữa nước ta với các nước ASEAN. Ngày 22 tháng 7 năm 1992, Việt Nam tham ký hiệp ước thân thiện Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN. Có thể nói đây là một tiền đề quan trọng cho sự hội nhập của Việt Nam sau này. Ngày 28/7/1995 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, đây là một thành công to lớn của ngoại giao Việt Nam, có ý nghiã quyết định cho tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam.
Sau khi hội nhập ASEAN, Việt Nam đã trở thành nhân tố rất năng động của tổ chức này, sau sự tổ chức thành công của hội nghị cấp cao ASEAN tháng 12/1998 ở Hà N

 

Các chủ đề có liên quan khác

Top