hoang_thu_phong

New Member
Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết Nối
Câu 1: Phân tích các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Ý nghĩa của các phong trào đó đối với sự ra đời của Đảng cộng sán Việt Nam.
Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập chế độ thống trị rất tàn bạo, và phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta. Xã hội VN có những biên đổi to lớn: Từ chế độ phong kiến chuyển sang thuộc địa nửa phong kiến. Hai mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong xã hội ngày càng gay gắt. Đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc Pháp xâm lược và giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với bọn địa chủ, phong kiến tay sai- chỗ dựa của thực dân Pháp. Trước hoàn cảnh ấy, rất nhiều phong trào đấu tranh yêu nước đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Mặc dù bị thất bại nhưng các phong trào đã để lại ý nghĩa sâu sắc, thúc đấy quá trình ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với tinh thần yêu nước sâu sắc, nhân dân ta đã đứng dậy đấu tranh chông thực dân pháp và bọn tay sai phản động. Các cuộc đấu tranh này diễn ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau.
Một là: Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản.
Phong trào Cần Vương (1885-1896), một phong trào đấu tranh vũ trang do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã dẫy lên một phong trào chống Pháp rộng lớn ở Bắc và Trung kỳ. Tuy nhiên cuối cùng bị thất bại. Sự thất bại của Phong tào Cần vương đã chuwngsn tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc.
Phong trào đấu tranh của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh:phan Bội Châu chủ trương dựa vào bên ngoài để đánh Pháp, giành độc lập dân tộc, phương pháo tiến hành là bạo động. Ông lập ta Duy tân hội, Việt Nam quang phục hội, tổ chức phong tào Đông du.
Phan Châu Trinh với khuynh hướng cải cách, chủ trương ỷ Pháp cầu tiến bộ, phát động một cuộc duy tân để nhằm đưa dất nước ngày một phát triên, dần dần thoát ra khỏi ách thống trị cử người Pháp.
Do những hạn chế về lịch sử, về giai cấp nên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cùng các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai cấp tư sản Việt Nam đã bắt đầu vươn lên vũ đài đấu tranh với thực dân Pháp bằng nhiều hình thức khác nhau.
- Năm 1919-1923, Phong trào quốc gia cải lương của bộ phận tư sản và địa chủ lớp trên đã diễn ra bằng việc vận động chấn hưng nội hoá,bài trừ ngoại hoá; chống độc quyền thương cảng Sài Gòn; chống độc quyền khai thác lúa gạo ở Nam Kỳ; đòi thực dân Pháp phải mở rộng các viện dân biểu cho tư sản Việt Nam tham gia.
Năm 1923 xuất hiện Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn, tập hợp tư sản và địa chủ lớp trên. Họ cũng đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ để lôi kéo quần chúng. Nhưng khi bị thực dân Pháp đàn áp hay nhân nhượng cho một số quyền lợi thì họ lại đi vào con đường thỏa hiệp.
Năm 1925-1926 đã diễn ra Phong trào yêu nước dân chủ công khai của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới với những sự kiện lớn: Đấu tranh đòi thả tự do cho Phan Bội Châu( 1925), lễ truy điệu và để tang Phan Châu Trinh( 1926), đấu tranh đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh( 1926).
Năm 1927-1930 Phong trào cách mạng quốc gia tư sản gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng (25-12-1927). Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của khuynh hướng tư sản ở Việt Nam, tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và cả hạ sĩ quan Việt Nam trong quân đội Pháp.
Về tư tưởng, Việt Nam quốc dân Đảng mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn. Về chính trị, Việt Nam quốc dân Đảng chủ trương đánh đuổi đế quốc, xóa bỏ chế độ vua quan, thành lập dân quyền, nhưng chưa có một đường lối chính trị cụ thể, rõ ràng. Về tổ chức, Việt Nam quốc dân Đảng chủ trương xây dựng các cấp từ Trung ương đến cơ sở, nhưng cũng chưa có một hệ thống tổ chức thống nhất.
Ngày 9/2/1930, Việt Nam quốc dân Đảng phát động cuộc khởi nghĩa Yên Bái nhưng nhanh chóng bị dập tắt.

Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư sản chọn lựa một con đường mới, một giải Hai là: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
Nguyễn Aí Quốc tìm đường giải phóng dân tộc:
Trước yêu cầu của cách mạng, ngày 5- 6-1911, Nguyễn Ái Quốc đã lên đường sang các nước phương Tây, nơi có khoa học- kỹ thuật phát triển và những tư tưởng dân chủ tự do, xem “nước Pháp và các nước phương Tây làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào mình’’.
Trong những ngày hoạt động cách mạng sôi nổi đó, cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 bùng nổ làm chấn động toàn cầu. Người hướng đến ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười và chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của cuộc cách mạng vĩ đại đó.
Tháng 7- 1920, nguyễn Ái Quốc đọc được bản “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin. Người tìm thấy trong Luận cương lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam.
Tháng 12-1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện đó đánh dấu bước ngoặt quyết định trong cuộc đời hoạt động của Người, bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản; mở đường giải quyết đúng đắn về đường lối giải phóng dân tộc của Việt Nam. Người nói: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản".
Từ khi trở thành người cộng sản, cùng với việc thực hiện những nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến mạnh mẽ việc nghiên cứu lý luận giải phóng dân tộc theo học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác- Lênin để truyền bá vào nước, từng bước chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập chính đảng Cộng sản ở Việt Nam. Cụ thể:
ở pháp: Năm 1921, Nguyễn Aí Quốc cùng các nhà cách mạng yêu nước lập ra “ Hội liên hiệp thuộc địa’’, với tờ báo “ Người cùng khổ” làm cơ quan ngôn luận.
Nguyễn Ái Quốc viết nhiều bài đăng trên các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân. Người viết một số tác phẩm, đặc biệt Bản án chế độ thực dân Pháp, được xuất bản lần đầu tiên ở Pari năm 1925. Những bài viết trong tác phẩm đã vạch trần bản chất phản động của đế quốc Pháp đối với các nước thuộc địa, thức tỉnh tinh thần dân tộc, hướng nhân dân các nước thuộc địa đi tới giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.
Nhân dân ta, trước hết là những tiểu tư sản trí thức yêu nước, tiến bộ, nhờ tác phẩm này và các bài viết khác của Nguyễn Ái Quốc, mà hướng tới con đường cách mạng của Người để đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Ở Liên Xô: Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đi Mátxcơva để tham gia các Hội nghị Quốc tế, đồng thời học tập kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Lênin.
Ở Trung Quốc: Người lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên( tháng 6/1925), hạt nhân là “Cộng sản đoàn”. Cơ quan ngôn luận của Hội là tuần báo Thanh niên. Từ năm 1925-1927, Người mở nhiều lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Sau các khoá học một số được chọn đi học ở trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, phần đông được đưa về nước hoạt động. Đây là sự chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu được xuất bản thành sách với tên gọi là “Đường kách mệnh”. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc vạch ra những phương hướng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam:
Trước tiên, Người chỉ rõ các cuộc cách mạng tư sản là không triệt để, chỉ có cách mạng tháng 10 Nga là triệt để nhất. Vì thế, cách mạng Việt Nam cần đi theo con đường cách mạng của học thuyết Mac- lenin thì mới thành công.
Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam:Cách mạng Việt Nam trước hết phải làm dân tộc cách mệnh, nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, dành độc lập tự do, đồng thời tiến lên làm giai cấp cách mệnh, đánh đuổi tư bản nhằm giải phóng quần chúng nhân dân lao động.
Lực lượng cách mạng: Gồm “ sĩ, nông, công, thương”, trong đó, công- công là chủ cách mênhj, là gốc cách mệnh, còn học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ chỉ là “bầu bạn của cách mạng”.
Phương pháp cách mạng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy, phải động viên, tổ chức và lãnh đạo quần chúng vùng lên đánh đuổi kẻ thù.”
Vấn đề đoàn kết quốc tế : Nguyễn Ái Quốc xác định, Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới cần được sự giúp đỡ của quốc tế nhưng không được ỷ lại mà phải chủ động, tự cường.
Sự lãnh đạo của Đảng: Cách mạng muốn thắng lợi “ trước hết phải có Đảng cách mệnh. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công”.
“Đường kách mệnh” đã trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam.
Sự phát triển của phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản.
Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất: Ngay từ khi ra đời, giai cấp công nhân đã đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản bằng những hình thức tự phát như chống đánh đập, đòi tăng lương … nhưng đều bị thất bại
Sau chiến tranh thế giwois lần thứ nhất: Cuộc đấu tranh của công nhân diễn ra sôi nổi.
Từ năm 1919-1925 đã có hơn 25 cuộc cuộc bãi công của công nhân các thành phố Nam Định, Hà nội…
Tư 1926 trở đi, phong trào phát triển mạnh với sự ra đời của “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên”. Thắng 7/1929, ‘công hội đỏ” thành lập, thể hiện bước trưởng thành của giai cấp công nhân, tạo điều kiện thúc đẩy giai cấp công nhân đi dần vào đấu tranh có tổ chức.
Ba là: Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam
- Đông Dương Cộng sản Đảng: Ngày 17-6-1929, tại nhà số 312 Khâm Thiên, Hà Nội, đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc họp Đại hội, quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ, quyết định xuất bản báo Búa liềm và cử ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng.
- An Nam Cộng sản Đảng: Trước nhu cầu của phong trào cách mạng và với sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng, một số hội viên tiên tiến trong bộ phận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Trung Kỳ và Nam Kỳ vạch ra kế hoạch tổ chức đảng cộng sản. Ngày 25-7-1929, các đồng chí trong bộ phận Việt Nam Cách mạng Thanh niên hoạt động ở Trung Quốc gửi Đông Dương Cộng sản Đảng một bức thư thông báo rằng họ quyết định lập một đảng cộng sản bí mật là An Nam Cộng sản Đảng.
- Đông Dương Cộng sản liên đoàn: Cùng với sự phân hoá trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ.
Sự ra đời của Đông Dương cộng sản Đảng (6-1929) và An Nam cộng sản Đảng (8-1929) tác động mạnh mẽ đến sự phân hoá trong Tân Việt, những đảng viên tiên tiến đã tách ra thành lập các chi bộ cộng sản. Tháng 9-1929, họ lập ra Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Như vậy, chưa đầy 4 tháng, ở Việt Nam đã có 3 tổ chức cộng sản ra đời, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam. Nó chững tỏ hệ tư tưởng cộng sản đã giành được ưu thế trong phong trào yêu nước dân tộc. Sự kiện này cũng chỉ ra rằng, những điều kiện để thành lập Đảng đã hoàn toàn chín muồi trong phạm vi cả nước. Yêu cầu của cách mạng nước ta là phải hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng cộng sản thống nhất.
Y nghĩa: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân ta diễn ra sôi nổi, theo nhiều khuynh hướng khac nhau: Phong kiến, tư sản... mặc dù bị thất bại nhưng đã để lại ý nghĩa lịch sử to lớn: góp phần cỗ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, là những đòn đánh chí mạng vào kẻ thù và bọn tay sai phản động, có tác dụng làm nền tảng để thúc đẩy các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng mới ra đời: khuynh hướng vô sản.
Với sự hoạt động tích cực của Nguyễn Aí Quốc, cùng các phong trào yêu nước đấu tranh theo khuynh hướng vô sản, với sự ra đời của 3 tổ chức Đảng đã thúc đẩy sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam. Đó thực chất là sự chuẩn bị về tổ chức, chính trị cho sự thành lập Đảng.
Với sự chín muồi về điều kiện, tổ chức, chính trị, ngày 3/2/1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Sự ra đời của Đảng là sự kết hợp của chủ nghĩa Mac-leenin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Do đó, có thể nói, sự phát triển của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có ý nghĩa quyết định trực tiếp đối với sự ra đời của Đảng cộng dản Việt Nam.

Câu 2: Vì sao nói sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ 20 của Nguyễn Ái Quốc là một tất yếu lịch sử?


Link Download bản DOC
Do Drive thay đổi chính sách, nên một số link cũ yêu cầu duyệt download. các bạn chỉ cần làm theo hướng dẫn.
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link để tải:

 
Last edited by a moderator:
Top