Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By baby_thichtudo
#686829

Download Tiểu luận Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và việc hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này miễn phí





MỤC LỤC
A. Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án: 1
B. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: 2
1. Thẩm quyền xét xử theo sự việc: 2
2. Thẩm quyền xét xử theo đối tượng: 5
3. Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ: 6
C. Vấn đề hoàn thiện các quy định pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: 7
1. Hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: 9
2. Hoàn thiện quy định về tranh chấp thẩm quyền xét xử: 11
3. Sửa đổi Luật tổ chức tòa án: Trên tinh thần cải cách thẩm phán, trong đó có Tòa án sơ thẩm khu vực. 11
4. Hoàn thiện các văn bản pháp luật có liên quan. 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
 
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo các quy định của pháp luật hiện hành. Theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án hoàn toàn có thể bị khánh cáo, kháng nghị theo quy định của luật pháp. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong một khoảng thời gian nhất định thì sẽ có hiệu lực pháp luật, nếu bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Từ đó ta thấy rằng xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu do Tòa án có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. Vì đây là lần xét xử đầu tiên nên trong giai đoạn này Tòa án phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án trên cơ sở cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Pháp luật nước ta quy định rất chặt chẽ và phù hợp về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nhưng do những lý do khách quan và chủ quan vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế xung quanh vấn đề này. Chính vì vậy bên cạnh việc tìm hiểu rõ về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án thì người viết cũng xin đưa ra một số ý kiến đóng góp cho việc hoàn thiện hơn các quy định pháp luật về vấn đề này.
Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án:
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS năm 2003) thì: thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép Tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội, nơi thực hiện tội phạm hay nơi khác theo quy định của pháp luật.
Việc quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cần dựa vào các căn cứ sau:
Đường lối chính sách của Đảng.
Nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự.
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm.
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của thẩm phán cũng như điều tra viên, kiểm sát viên.
Biên chế và cơ sở vật chất.
Tình hình phạm tội và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự:
Thẩm quyền xét xử theo sự việc:
Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án các cấp với nhau căn cứ vào tính chất của tội phạm.
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực:
Thẩm quyền này được quy định rõ tại Khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003. Nếu thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực được quy định một cách hợp lý và chặt chẽ thì phần lớn các tội phạm xảy ra sẽ được xử lý kịp thời, phát huy được tác dụng giáo dục răn đe và góp phần bảo vệ trật tự an toàn cho xã hội. Cụ thể như sau:
“Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự”.
Như vậy, Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ mười lăm năm tù trở xuống, trừ những tội quy định tại điểm a, b, c Khoản 1 Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Tuy nhiên do trình độ và năng lực chuyên môn, điều kiện cơ sở vật chất, biên chế của Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án ở một số huyện chưa đảm bảo yêu cầu, cần tiếp tục bổ sung, kiện toàn mới có thể đảm bảo yêu cầu. Nghị quyết số 24/2003/QH11 về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại mục 3 đã chỉ rõ: “Kể từ ngày Bộ luật Tố tụng hình sự có hiệu lực, những Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực có đủ điều kiện thực hiện thì được giao thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật này. Những Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực chưa đủ điều kiện thì thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, trừ những tội phạm quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 170 của Bộ luật này, nhưng chậm nhất đến ngày 01 tháng 7 năm 2009, tất cả Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực thực hiện thống nhất thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự”.
Theo tinh thần đó, các cơ quan liên quan trong phạm vi chức năng của mình đã khẩn trương củng cố cơ sở vật chất, kiện toàn đội ngũ cán bộ của cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, cơ quan điều tra quân sự, viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự khu vực để thực hiện thống nhất thẩm quyền xét xử theo quy định mới.
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu:
Thẩm quyền này được quy định tại Khoản 2 Điều 170 BLTTHS năm 2003. Theo đó, so với những quy định trước đây, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu được quy định trong Bộ luật TTHS không có gì khác nhau, cụ thể là các vụ việc như sau:
Những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền cuat Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực.
Những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.
Bộ luật TTHS không quy định cụ thể những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh lấy lên xét xử. Vì thế, chánh án tòa, viện trưởng viện kiểm sát và thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh cần căn cứ vào khả năng thực tế của các thẩm phán, kiểm sát viên và điều tra viên ở cấp huyện mà xác định những vụ việc nào cần lấy lên để điều tra, truy tố và xét xử ở cấp tỉnh. Những vụ án đó thường là những vụ án như sau:
Vụ án phức tạp (tình tiết khó, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành).
Vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sỹ quan Công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hay có uy tín cao trong dân tộc ít người.
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng:
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội.
Theo Điều 3 của Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 thì:
“Các Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là:
1. Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hay kiểm tra tình trạn...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement