Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By hllc_yeuanh
#908641

Download miễn phí Đề án Vai trò của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế Việt Nam





MỤC LỤC

Trang

Lời nói đầu 1

Phần I: Những vấn đề cơ bản 2

về thị trường chứng khoán 2

I- Khái niệm về thị trường chứng khoán. 2

1. Tính khách quan của sự ra đời và tồn tại của thị trường chứng khoán. 2

2. Khái niệm về thị trường chứng khoán. 6

3. Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán. 7

4. Cơ cấu của thị trường chứng khoán. 9

5- Sở giao dịch chứng khoán. 12

II- Khái niệm về chứng khoán. 16

1. Cổ phiếu: 16

2. Trái phiếu. 17

3. Giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu : 18

4. Hợp đồng về quyền lựa chọn. 18

5. Chứng quyền (rights) và chứng khế (warrants). 19

III-Vai trò của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế thị trường . 22

3. Tính tích cực của thị trường chứng khoán. 22

2. Mặt tiêu cực của thị trường chứng khoán. 28

 

Phần II: Sự hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam. 31

I. Sự cần thiết của việc phát triển thị trường chứng khoán ở việt nam. 31

II- Mô hình tổ chức của thị trường chứng khoán Việt Nam. 33

1. Mô hình Trung tâm GDCK TP. HCM. 33

2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm GDCK. 34

III. Thực trạng thị trường chứng khoán việt nam 35

1. Thực trạng 35

2. Đánh giá tình hình TTCK sau hơn một năm đi vào hoạt động. 36

 

Phần III: Giải pháp chung phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 38

I. Một số giải pháp phát triển TTCK Việt Nam trong thời gian tới. 38

1. Nhóm các giải pháp nhằm tăng cung chứng khoán. 38

2. Nhóm các giải pháp nhằm tăng cầu chứng khoán. 39

3. Các giải pháp về công bố thông tin. 40

4. Giải pháp tăng cường thanh tra, kiểm tra. 41

5. Các giải pháp tổ chức bộ máy và cơ sở hạ tầng cho thị trường chứng khoán: 41

6. Hoàn thiện khung pháp lý cho sự vận hành của thị trường chứng khoán. 42

II- Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. 43

1. Hoàn thiện Trung tâm GDCK TP. HCM, xây dựng Trung tâm GDCK thứ 2 ở Hà Nội. 43

2. Xây dựng thị trường chứng khoán phi tập trung(OTC). 44

3. Phát triễn hàng hoá cho thị trường. 45

4. Phát triển các định chế tài chính trung gian. 45

 

Kết luận 46

Tài liệu tham khảo 47

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


công trái nhà nước, trái phiếu cầm cố.
3. Giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu :
Một công ty cổ phần kinh doanh có hiệu quả, có nhu cầu và khả năng phát triển, công ty quyết định tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu bổ sung. việc phát hành cổ phiếu mới có thể dẫn đến tình trạng một số cổ đông ban đầu có thể mất quyền kiểm soát công ty, trong khi họ là những người có công cần được ưu đãi.
Để đảm bảo quyền kiểm soát công ty của các cổ đông ban đầu, trước những năm 1950, các công ty cổ phần trên thế giới thường thực hiện cách chia cổ phần thông thường làm hai loại: A, B. Cổ phần loại A là những cổ phần nguyên thuỷ, được hưởng các quyền của cổ phần thông thường. Cổ phần loại B là loại cổ phần mới được phát hành bổ sung, được hưởng lãi cổ phần theo nguyên tắc cổ phần thông thường nhưng không được phổ thông đầu phiếu. Tức là quyền kiểm soát công ty vẩn dành cho số cổ phần nguyên thuỷ. Ngày nay, khi phát hành một lượng cổ phiếu mới, người ta thường áp dụng cách phát hành trích ra theo một tỷ lệ nhất định tương xứng với số cổ phiếu các cổ đông ban đầu, cho phép các cổ đông ban đầu được mua với giá ưu đãi thấp hơn giá thị trường, đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông có công sáng lập và lãnh đạo công ty.
Số lượng cổ phiếu mà mỗi cổ đông ban đầu được quyền mua theo tỷ lệ với số cổ phiếu họ nắm giử. Trái lại, cổ đông hiện hữu không thực hiện quyền mua thì họ có thể chuyển nhượng quyền mua đó cho người khác để hưỡng một phần chênh lệch giá.
Như vậy, ”giấy bảo đảm quyền mua cổ phiếu “cũng là một loại chứng khoán và nó được giao dịch sôi động trên Thị trường chứng khoán như cổ phiếu của công ty đó.
4. Hợp đồng về quyền lựa chọn.
Hợp đồng về quyền lựa chọn có hai loại: ”quyền chọn mua”và “quyền chọn bán”. Đó là một bản hợp đồng được soạn giữa hai người. Hợp đồng này xác định cho: người mua quyền mua (người mua quyền bán) được mua (bán) một loại chứng khoán, với số lượng và giá cả được ấn định trong một khoảng thời gian nhất định.
Cần lưu ý, hợp đồng về quyền lựa chọn xác định quyền mua hay quyền bán mà không kèm theo nghĩa vụ. Nghĩa là người mua quyền mua hay mua quyền bán có quyền mua hay có quyền bán mà không kèm theo nghĩa vụ phải mua hay phải bán. Trong khi đó, người bán quyền mua hay bán quyền bán có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng việc bán hay mua loại chứng khoán theo số lượng, giá cả, thời gian đã xác định trong hợp đồng theo yêu cầu của người mua quyền. Quan hệ mua bán này cũng là một loại quan hệ thương mại, nghĩa là người mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản tiền cho quyền mua đó.
Giao dịch mua bán “quyền lựa chọn”trên Thị trường chứng khoán của các nước phát triển cũng tấp nập như chính loại chứng khoán đó.
Người mua quyền mua là người theo quan điểm giá lên, nhờ đó hưỡng lời nhờ chênh lệch giá chứng khoán đó giữa thời điểm ký hợp đồng và trong tương lai, còn người bán theo quan điểm giá không lên, nếu điều đó đúng thì anh ta được hưỡng số tiền đã bán quyền mua. Tuy nhiên, số tiền này không lớn.
Quyền chọn bán: là hình thức ngược lại của quyền chọn mua. Người mua quyền bán xem xét chứng khoán theo quan điểm giá hạ. Anh ta mua quyền bán để bán chứng khoán cho người bán quyền về một loại chứng khoán với số lượng, giá cả và thời gian đã định.
Người mua quyền bán chứng khoán nhận định giá loại cổ phiếu đó sẽ hạ xuống thấp hơn giá đã định để anh ta thực hiện quyền bán chứng khoán cho người bán quyền bán theo giá đã định.
Người bán quyền bán nhận định giá loại cổ phiếu đó sẽ tăng và như vậy anh ta được hưởng số tiền bán quyền bán do người mua quyền trả.
Nếu như người mua quyền bán nhận định đúng và anh ta thực hiện quyền bán của mình thì anh ta ở vào địa vị của người bán khống.
5- Chứng quyền (rights) và chứng khế (warrants).
Một công ty cổ phần có thể tăng thêm vốn bằng việc phát hành các chứng quyền và chứng khế cho các cổ đông hiện hữu.
Chứng quyền và chứng khế giống nhau ở chỗ cả hai đều cho phép người sở hữu chúng được đặt mua các cổ phiếu mới. Còn điểm khác nhau cơ bản giữa chúng là các chứng quyền thường ngắn hạn, nhưng các chứng khế có kỳ hạn lâu hơn nhiều. Do vậy, một công ty có thể phát hành nhiều loại chứng khế cùng một thời điểm, nhưng mỗi thời điểm chỉ phát hành một loại chứng quyền. Sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu hai loại này.
Chứng quyền (rights)
Chứng quyền (rights) hay còn gọi là quyền tiên mãi hay quyền đặt mua (quyền dự tính ) là một quyền ưu đãi mà công ty cổ phần cho các cổ đông được hưởng để mua cổ phiếu mà họ đang sở hữu. Thông thường, các cổ đông có chứng quyền, được quyền "mua" hay "đặt mua" (subscription), với giá thấp hơn giá hiện hành của cổ phiếu. Cácchứng thường có kỳ hạn ngắn.
Thông thường, khi một công ty cổ phần muốn tăng thêm vốn bằng cách phát hành thêm một số cổ phiếu mới. Công ty sẽ trao cho những người đang sở hữu cổ phiếu của công ty một số đặc quyền hay cơ hội mua những coỏ phiếu mới phát hành thêm tỷ lệ với số cổ phiếu mà họ đang nắm giữ. Ví dụ ; một công ty cổ phần A cho các cổ đong của nó quyền mua thêm một cổ phiếu mới ứng với 10 cổ phiếu cũ mà họ đang nắm giữ. Mỗi cỏ đông được hưởng ưu đãi này sẽ được nhận một tờ chứng quyền. thể hiện chính xác số lượng các trái quyền mà nó được hưởng. Các trái quyền sẽ được thực hiện (đôỉ lấy cổ phiếu ) trong một thời hạn xác định theo một giá ấn định.
Nếu một cổ đông muốn thực hiện trái quyền của mình, anh ta điền vàotờ giấy chứng quyền và gửi đến công ty. Anh ta cũng có thể gửi séc hay ngân phiếu theo giá trị của những cổ phiếu mà anh ta muốn mua thêm. Ngược lại, nếu anh ta không muốn thực hiện trái quyền của mình, trên thị trường chứng khoán theo giá thị trường hiện hành. Nói chung, dù theo cách nào thì cổ đông cũng phải thực hiện theo thời hạn được ghi trên chứng quyền. Sau ngày đó, chứng quyền không còn giá trị, tức là nó không thể được thực hiện hay đem bán.
Chứng khế (Warrants)
Chứng khế còn gọi là quyền dự tính ưu tiên mua cổ phiéu mới hay bảo chứng phiếu. Một chứng khế thườngđược phát hành gắn liền với một loại chứng khoán khác, cho phép người sở hữu nó đựoc quyền mua cổ phiếu thường (hay chuyển đổi chứngkhoán đó sang cổ phiếu thường) theo một giá định ccược gọi là giá đặt mua (subscription price) trong một thời hạn nhất định. Giáđịnh trước trên chứng khế cao hơn giá thị trường hiện hành của cổ phiếu thường và chứng khế có kỳ hạn dài hơn chứng quyền (rights), khoảng một vài năm.
Các chứng khế thường được phát hành cùng với các trái phiếu hay các cổ phiếu ưu đãi để giúp cho việc chào bán lần đầu với những chứng khoán này tại sở giao dịch chứng khoán trở nên hấp dẫn hơn. Do các trái phiếu được hưởng lãi cố định và các cổ phiếu ưu đãi được hưởng các tỉ lệ cổ tức theo qui định, cả hai khoản này được thanh toán trước khi ...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement