Chia sẻ đồ án, luận văn ngành Sư phạm miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Ryton
#1006528 Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nối
Phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải cenllulose, trên rơm rạ và bong phế thải, từ mô hình ủ bằng phương pháp lên men tự nhiên. Nuôi cấy các chủng vi sinh vật đã tuyển chọn và thử nghiệm các chủng đó trên rơm rạ và bông phế thải. Phân lập và nuôi cấy giống cấp 1,2,3 của nấm sò và nấm rơm phục vụ cho việc xử lý cơ chất. Xây dựng các mô hình xử lý bã thải trên rơm rạ và bông phế thải bằng phương pháp lên men tự nhiên (xác định các điều kiện tối ưu về nhiệt độ, độ ẩm, độ PH, thời gian lên men). Lựa chọn enzyme phân giải cenllulose, từ đó xây dựng quy trình công nghệ xử lý bãi thải trên rơm rạ bằng phương pháp lên men tự nhiên kết hợp với chế phẩm enzyme (xác định các điều kiện tối thích của enzyme nhiệt độ, độ PH, thời gian phản ứng, tỉ lệ E/S). Từ các mô hình nghiên cứu lựa chọn mô hình tối ưu, xây dựng quy trình công nghệ cho từng mô hình. Theo dõi mức độ tăng sản lượng của nấm trồng. Đánh giá hiệu quả kinh tế của từng mô hình lựa chọn. Xây dựng công trình chế biến vi sinh từ bã thải sau khi thu hái nấm (Đưa ra các điều kiện cần thiết để xác lập một quy trình ủ đơn giản và có hiệu quả). Ứng dụng mô hình nghiên cứu xử lý nguyên liệu và quy trình chế biến phân vi sinh cho một số cơ sở nuôi trồng nấm ăn
Đào tạo 02 sinh viên
Vấn đề giải quyết phế thải sau thu hoạch nói chung và rơm rạ nói riêng
theo hướng hữu ích về mặt kinh tế và bảo vệ môi trường là một hướng nghiên
cứu cần được quan tâm. Hiện nay, khoa học công nghệ thế giới đã và đang có
những bước tiến vượt bậc, nhất là công nghệ sinh học. Enzyme là một trong
những đối tượng được nghiên cứu và áp dụng nhiều nhất. Cho đến nay, việc sản
xuất chế phẩm enzyme các loại đa dạng và đang phát triển mạnh mẽ trên quy
mô công nghiệp. Thực tế đã có hàng ngàn chế phẩm được bán trên thị trường
thế giới, các chế phẩm này đã được khai thác và tinh ché có độ tinh khiết theo
tiêu chuẩn công nghiệp. Chế phẩm enzyme k h ô n g chỉ được ứng d ụ n g tron g y
học mà còn được ứng dụng trog nhiều lĩnh vực khác nhau như trong công
nghiệp, nông nghiệp, hóa học, công nghiệp dược phẩm, chế biến dược phẩm và
xử lý môi trường. Với các đặc tính ưu việt là làm tăng hiệu suất và rút ngắn
được thời gian của quá trình chế biến, xử lý, nâng cao chất lượng, giảm giá
thành sản phẩm. Trong thời điểm hiện tại, các loại phế thải công, nông nghiệp
cũng đang được các nhà khoa học trong nước quan tâm theo khía cạnh an toàn
và thân thiện với môi trường.
Việt Nam là quốc gia có trên 70% dân số sống bằng nghề nông. Ngày
nay, với giống lúa mới và quy trình sản xuất tiến bộ, chúng ta đã thu hoạch hàng
năm tới 2-3 vụ lúa, số rơm rạ thu được lên đến hàng chục triệu tấn. Trong những
năm gần đây, đời sống người dân được nâng cao, ở các thôn quê người dân đã
sử dụng các nguồn nhiên liệu khác tiện lợi hơn thay thế trong đun nấu như than,
gas, điện... vì vậy sau khi gặt lúa nông dân đã tuốt lúa ngay tại đồng ruộng, số
rơm rạ này thường bị đốt thành tro, việc làm này gây bất lợi cho đồng ruộng lớn
hơn nhiều lần so với việc làm phân bón như ta tưởng. Các chất hữu cơ trong
rơm rạ và trong đất do nhiệt độ cao đã biến thành các chất vô cơ làm cho đồng
ruộng bị khô, chai cứng do một lượng nước khá lớn bị bốc hơi do nhiệt độ hun
đốt trong quá trình cháy rơm rạ. Đồng thòi, quá trình đốt rơm rạ ngoài trời
không kiểm soát được lượng C 02 phát thải vào khí quyển cùng với c o , CH4,
các NOx và một ít S02.
Vào những ngày cao điểm mùa gặt thậm chí một số địa phương còn vứt
rơm rạ ra đường quốc lộ gây ách tắc giao thông, số rơm rạ còn lại bị vứt bỏ trên
đường ngõ, xóm rất lãng phí đồng thời gây ô nhiễm môi trường sinh thái mà còn
làm mất đi cảnh quan văn hóa đô thị, nông thôn. Song, phế thải nông nghiệp
thực sự là một nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế vô cùng lớn. Trong khi đó
chính nguồn nguyên liệu này lại rất cần thiết cho nghề trồng nấm với tổng lượng
khoảng 20-30 triệu tấn mồi năm. Chỉ cần sử dựng 10% số nguyên liệu này để
trồng nấm thì sản lượng nấm đã đạt vài trăm ngàn tấn/năm.
Lượng xuất khẩu đạt 40.000 tấn trị giá 40 triệu ƯSD/năm. số còn lại
60.000 ngàn tấn tiêu thụ nội địa. Như vậy, doanh thu về nấm/năm đạt 100 triệu
USD tương đương với trên 1,7 ngàn tỉ đồng Việt Nam. Điều này chứng tỏ nghề
trồng nấm đang mang lại hiệu quả kinh tế cao, vì vậy mà hầu hết các tỉnh trong
cả nước đều có nghề trồng nấm. Chỉ trong vòng 15 năm trở lại đây với sự
chuyển giao công nghệ và áp dụng khoa học kỹ thuật nên nghề trồng nấm ngày
càng phát triển mạnh mẽ. Nghề trồng nấm đối với một số hộ gia đình giờ đây
không đon thuần chỉ là nghề phụ mà đã trở thành nguồn thu nhập chính. Quy
mô sản xuất nấm rải rác khắp 40 tỉnh, thành trong cả nước nhưng tập trung lớn ở
hai khu vực: Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng.
Tuy vậy, công nghệ nuối trồng nấm hiện nay theo hai phương pháp xử lý
nguyên liệu bằng nhiệt (hấp thanh trùng ) và ủ đống cho nên năng suất nấm thu
hoạch chưa cao. Vì ngoài yếu tố như giống nấm, nguyên liệu, kinh nghiệm nuôi
trồng, thời tiết thì quy trình công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó
quyết định đến sự thành công hay thật bại trong việc nuôi trồng nấm. Vì vậy,
việc đưa ra công nghệ mới sử dụng ché phẩm enzyme có hoạt tính cao, có khả
năng phân giải Cellulose nhằm rút ngắn được thời gian xử lý cơ chất và nâng
cao năng suất nấm trồng là một hướng đi mới với rất nhiều triển vọng , sử dụng
enzym công nghiệp sẽ đảm bảo phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi
trường là việc làm vô cùng có ý nghĩa để nghề trồng nấm được phát triển bền
vững.
CHƯƠNG I: TỎNG QUAN
1.1. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG
NƯỚC
Theo báo cáo của Cục Trồng Trọt, sản lượng lúa cả năm 2010 của nước ta
đạt 39,8 triệu tấn (cao nhất từ trước đến nay và cao hơn 900 ngàn tấn so với năm
2009); trong đó các tỉnh phía Bắc đạt 13,2 triệu tấn và các tỉnh phía Nam đạt
26,6 triệu tấn.
Tính đến ngày 15/11/2010, theo Tổng cục Thống kê, cả nước đã thu
hoạch được 1453,4 nghìn ha lúa mùa, bàng 98,6% cùng kỳ năm trước. Trong đó
các địa phương phía Bắc thu hoạch 1137,5 nghìn ha; các địa phương phía Nam
thu hoạch 315,9 nghìn ha. Năng suất lúa Việt Nam cũng vào loại cao nhất vùng
Đông Nam Á, bình quân 5,3 tấn/ha/vụ
Cùng với đó, Hiệp hội Lương thực cũng cho biết kết quả xuất khẩu gạo
của cả nước đén 31/12/2010 đạt 6.754 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 2.912
tỷ USD. Những con số thống kê trên đã cho thấy phần nào sức ảnh hưởng mạnh
mẽ của ngành trồng lúa với nền kinh tế nước nhà.
Bảng 1: Thống kê diện tích và sản lượng lúa năm 2009
Vùng Diện tích lúa
( nghìn ha)
Sản lượng lúa
( nghìn tấn)
Cả nước 7440,1 38895,5
Đông băng sông Hông 1155,4 6796,3
Trung du và
miền núi phía Bắc 669,9 3047,1
Băc Trung Bộ và
duyên hải miền Trung 1221,6 6252
Tây Nguyên 213,6 994,3
Đông Nam Bộ 306,7 1322,4
Đông Băng sông Cửu Long 3872,9 20483,4
' 7 y
ịNguôn: Tông cục thông kê)
Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Hình đại diện của thành viên
By daigai
#1017877 Link mới update, mời bạn xem lại bài đầu để tải
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement