baoanh_vip

New Member
Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết Nối

Lời nói đầu

Việt Nam đang trên đà phát triển về kinh tế, nhu cầu của con người ngày càng được nâng cao, dẫn tới sức tiêu thụ hàng hoá ngày càng lớn. Một trong những mặt hàng không thể thiếu được trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong đời sống xã hội nói riêng đó là giấy - một trong 7 mặt hàng chiến lược của nền kinh tế do chính phủ trực tiếp quản lý. Tổng công ty Giấy Việt Nam thực hiện mục tiêu chiến lược lâu dài, nhằm đáp ứng tiêu thụ trong nước, cạnh tranh trên thị trường trong khu vực, tăng cường sức mạnh kinh tế - kỹ thuật góp phần thực hiện chủ trương công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, có được tiềm lực thực hiện nhiệm vụ then chốt do Đảng và Chính phủ giao cho.
Để thực hiện mục tiêu quan trọng đó, kế toán trở thành công cụ thực sự cần thiết trong công tác quản lý. Vấn đề tổ chức kế toán nguồn vốn chủ sở hữu khoa học, hợp lý, luôn được cải tiến hoàn thiện và quản lý, sử dụng vốn chủ có hiệu quả, đúng mục đích phù hợp với yêu cầu, điều kiện và trình độ quản lý của TCTy sẽ giữ vị trí quan trọng để phát huy vai trò và chức năng kế toán.
Là sinh viên chuyên ngành kế toán, để hiểu sâu hơn việc tổ chức kế toán và tình hình quản lý nguồn vốn chủ sở hữu nhằm củng cố nâng cao kiến thức đã học ở trường cũng như góp phần vào việc hoàn thiện kế toán ở TCty giấy trong điều kiện hiện nay, em mạnh dạn nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện kế toán nguồn vốn chủ sở hữu và tình hình quản lý, sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu ở Tổng công ty Giấy Việt Nam". Trong giới hạn luận văn, em chủ yếu trình bày về kế toán nguồn vốn, các quỹ tập trung và tình hình quản lý, sử dụng nguồn vốn, các quỹ tập trung.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về kế toán nguồn vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp Nhà nước
Chương II: Thực trạng kế toán nguồn vốn chủ sở hữu và tình hình quản lý, sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu ở Tổng công ty Giấy Việt Nam.
Chương III: Hoàn thiện kế toán nguồn vốn chủ sở hữu và quản lý, sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu ở Tổng công ty giấy Việt Nam.
Luận văn của em được nghiên cứu tại Tổng công ty Giấy Việt Nam 25A – Lý Thường Kiệt – Hoàn Kiếm – Hà Nội. Thời gian thực hiện từ 16/01/ 2003 đến 03/05/2003.
Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo – Tiến sĩ - Nguyễn Năng Phúc cùng sự chỉ bảo kỹ lưỡng của các cô chú trong phòng Tài chính – Kế toán Tổng công ty Giấy Việt Nam. Em xin chân thành Thank và xin được nhận những ý kiến nhận xét hơn nữa để em hoàn thiện luận văn của mình.
Hà nội, ngày 28 tháng 05 năm 2003
Sinh viên
Phan Thị Bích Ngọc













Chương I: lý luận chung về kế toán nguồn vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp Nhà nước.
I. khái quát nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư góp vốn hay hình thành từ kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Như vậy dựa trên cơ sở chủ thể sở hữu mà một phần nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp là nguồn vốn chủ sở hữu.
* Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, có thể quy nguồn hình thành vốn chủ sở hữu từ ba nguồn sau:
- Nguồn đóng góp ban đầu và bổ sung của các nhà đầu tư .
Đây là nguồn vốn chủ sở hữu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp . Về thực chất, nguồn này do các chủ sở hữu đóng góp tại thời điểm thành lập doanh nghiệp và đóng góp bổ sung thêm trong quá trình SXKD.
- Nguồn đóng góp bổ sung từ kết quả hoạt động SXKD.
Thực chất nguồn này là số lợi nhuận chưa phân phối (lợi nhuận lưu giữ) và các khoản trích hàng năm của doanh nghiệp như các quỹ doanh nghiệp (quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúc lợi…).
- Nguồn vốn chủ sở hữu khác: chênh lệch do đánh giá lại tài sản, ngân sách cấp kinh phí…
* Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm:
- Nguồn vốn kinh doanh.
- Chênh lệch do đánh giá lại tài sản.
- Chênh lệch tỷ giá.
- Nguồn vốn xây dựng cơ bản.
- Lợi nhuận chưa phân phối.
- Các quỹ của doanh nghiệp: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ quản lý cấp trên.
- Nguồn kinh phí sự nghiệp.
II. Sự cần thiết, nhiệm vụ, yêu cầu và nguyên tắc của kế toán nguồn vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp Nhà nước .
TK 911 đến cuối kì, cụ thể là việc xác định đối tượng tập hợp chi phí và các nghiệp vụ phát sinh chi phí cho phòng XNK của Tổng công ty và các chi phí khác có liên quan đến XNK. Hiện nay ở Tổng công ty không có bút toán kết chuyển TK 642 vào TK 911 mà chỉ có bút toán kết chuyển vào TK451 như vậy là không đúng theo chế độ kế toán. Việc không kết chuyển một phần chi phí quản lý doanh nghiệp vào TK911 làm cho số lãi của cơ quan TCTy hàng năm được xác định là không chính xác (làm tăng lãi). Vì vậy kế toán phải kết chuyển cuối kỳ như sau:
Nợ TK 911.
Có TK 642: Chi phí quản lý cho hoạt động XNK.
Và:
Nợ TK 451.
Có TK 642: Chi phí quản lý cho bộ máy TCTy.
Trường hợp kế toán không tập hợp trực tiếp được các khoản chi phí quản lý liên quan trực tiếp đến hoạt động XNK thì kế toán phải phân bổ chi phí theo phương pháp phân bổ gián tiếp. Thực chất quản lý là quản lý con người, bên cạnh đó phòng xuất nhập khẩu là phòng có số lượng nhân viên đông nhất trong cơ quan TCTy, vì thế kế toán nên lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ là chi phí nhân công trực tiếp. Trong trường hợp này là số tiền lương thực tế của nhân viên phòng XNK. Công thức xác định số chi phí quản lý doanh nghiệp kết chuyển vào TK 911 như sau:
Cụ thể trong năm 2002, tổng chi phí tập hợp trên sổ TK 642 là: 4.420.996.860đ, tiền lương của toàn cơ quan TCTy trong quý là: 5.680.954.395đ trong đó tiền lương của phòng XNK là: 991.644.000đ. Ta có số chi phí quản lý doanh nghiệp phải kết chuyển vào TK 911 quý IV là:
Như vậy quỹ quản lý cấp trên thực sự mới được quản lý tốt và sử dụng đúng mục đích và sổ chi tiết TK451- từ 1/10/2002 đến 31/12/2002 được ghi lại như sau:


Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

 
Last edited by a moderator:
Top