ngoc_mai

New Member

Download Tiểu luận Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách miễn phí





MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. Một số khái niệm :
1.1. “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là gì ?
1.2. “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc” là gì ?
II. Những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1. Cơ sở lí luận
1.1. Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
2. Cơ sở thực tiễn
2.1 Nền tảng văn hóa Viêt Nam : truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam
2.2. Tổng kết những kinh nghiệm thực tế của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên thế giới
a. Tổng kết phong trào cách mạng ở Việt Nam
b. Tổng kết phong trào cách mạng trên thế giới
c. Tổng kết kinh nghiệm từ cách mạng tháng 10 Nga
2.3. Kế thừa tư tưởng đoàn kết trong kho tàng văn hóa nhân loại
2.4.Yếu tố chủ quan từ bản thân Hồ Chí Minh
III . Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
3.1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng
3.2. Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
3.3. Đại đoàn kết dân tộc để thực hiện khối đoàn kết toàn dân
3.4. Đại đoàn kết dân tộc trở thành sức mạnh vật chất, có tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng
IV. Vận dụng tư tưởng Đại đoàn kết của Hồ Chí Minh trong thực tiễn hiện nay
KẾT LUẬN
 
 
 
 
 



Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhân cách không phải sinh ra đã có sẵn mà được hình thành và phát triển do nhiều yếu tố. Trong phạm vi bài viết này, người viết xin phân tich vai trò 4 yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển nhân cách đó là di truyền, hoàn cảnh xã hội, nhân tố giáo dục nhân tố hoạt động và nhân tố giao tiếp đồng thời liên hệ thực tiễn
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Di truyền
Di truyền là sự tái tạo ở đời sau những thuộc tính sinh học có ở đời trước, là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen gi truyền.
Các yếu tố bẩm sinh di truyền như đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo của não, cấu tạo và hoạt động của các giác quan… Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền lại hay tự nảy sinh do biến dị (bẩm sinh).
Các yếu tố bẩm sinh di truyền đóng vai trò tiền đề tự nhiên, là cơ sở vật chất cho sự hình thành và phát triển nhân cách.
Chính vì vậy nhà giáo dục cần quan tâm đúng mức đến vai trò của yếu tố di truyền để phát hiện sớm các tài năng của học sinh, từ đó có kế hoạch bồi dưỡng phát triển tài năng của học sinh. Tuy nhiên không được quá đề cao hay quá xem nhẹ vấn đề này vì: Nếu tuyệt đối hoá hay quá đề cao ảnh hưởng của yếu tố di truyền sẽ dẫn đến sai lầm về nhận thức luận, dẫn đến những chính sách giáo dục phản khoa học hay phủ nhận khả năng cải biến bản chất con người,từ đó hạ thấp vai trò của giáo dục và tự giáo dục. Nếu quá xem nhẹ, coi thường ảnh hưởng của yếu tố sinh học - yếu tố di truyền thì vô hình chung chúng ta đã bỏ qua yếu tố tư chất,yếu tố tiền đề thuận lợi của sự phát triển.
Hoàn cảnh sống
Bao gồm: Yếu tố tự nhiên (đất đai thổ nhưỡng, sông núi khí trời…), yếu tố xã hội (dân tộc, tôn giáo, kinh tế chính trị…)
Nhân cách chỉ có thể được hình thành và phát triển trong môi trường nhất định, đặc biệt là môi trường xã hội, chỉ sống trong xã hội loài người thì con người mới có được những tư chất và thuộc tính người đó cũng chỉ phát triển được trong xã hội con người, nếu không sống trong xã hội loài người thì sẽ không có những thuộc tính người.
Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho các hoạt động giao lưu của học sinh. Nhờ hoạt động đó học sinh dần lĩnh hội được kinh nghiệm xã hội loài người để từng bước hình thành và hoàn thiện nhân cách. Nhân cách phản ánh chủ yếu những đặc điểm lịch sử, điều kiện sinh hoạt, nguồn gốc giai cấp, vị trí xã hội cá nhân, vì vậy khi điều kiện xã hội đã biến đổi cơ bản thì bộ mặt tinh thần của con người cũng biến đổi theo.
Nhân tố giáo dục
Theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ sự tác động của gia đình, nhà trường, xã hội (bao gồm cả dạy học và các tác đọng giáo dục khác) đến con người. Theo nghĩa hẹp, giáo dục có thể xem như quá trình tác động đến tư tưởng, đạo đức, hành vi của con người. Trong tâm lí học, giáo dục thường được hiểu như là quá trình tác động có ý thức, có mục đích và có kế hoạch về mặt tư tưởng, đạo đức và hành vi trong tập thể trẻ em và học sinh, trong gia đình và cơ quan giáo dục ngoài nhà trường.
Trong sự hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo. Điều đó được thể hiện như sau:
Giáo dục vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách
Giáo dục có thể mang lại những cái mà các yếu tố bẩm sinh di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được.
Giáo dục có thể bù đắp những thiếu hụt do khuyết tật bẩm sinh, hay bệnh tật đem lại cho con người.
Giáo dục có thể uốn nắn những sai lệch nào đó so với các chuẩn mực tác động tự phát của môi trươmhf gây nên và làm cho nó phát triển theo mong muốn của xã hội.
Khác với các yếu tố khác, giáo dục không chỉ thích ứng phù hợp với hiện tại, mà còn có thể đi trước hiện tại và thúc đẩy nó phát triển, trong khi tác động tự phát của xã hội chỉ ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ hiện có của nó. Điều này có giá trị định hướng cho việc xây dựng mô hình nhân cách của con người Việt Nam với tư cách là mục tiêu, là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Thực tiễn xã hội đã chứng minh rằng: sự phát triển tâm lý của trẻ chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong những đièu kiện của sự dạy học và giáo dục.
Giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong hình thành và phát triển nhân cách, song không nên tuyệt đối hóa vai trò giáo dục. Giáo dục không tách dời tự giáo dục, tự rèn luyện , tự hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân.
Nhân tố hoạt động
Hoạt động là cách tồn tại của con người, là nhân tố quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách. Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, mang tính cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định.
Con người hoạt động và giao tiếp trong những điều kiện kinh tế- xã họi nhất định. Các nhà tâm lý học đã khẳng định “nhân cách của con người nói chung chỉ được hình thành trong hoạt động, dưới sự quy định của điều kiện kinh tế xã hội cụ thể”. Hoạt động ở đây bao gồm một hệ thống làm việc, những hành vi, cách xử sự và sự tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực xã hội nhất định nhằm đảm bảo cho cá nhân tồn tại và phát triển trong các nhóm quan hệ xã hội khác nhau. Mỗi cá nhân học làm người thông qua một hệ thông họat động, làm việc trong các mối quan hệ xã hội và trong những điều kiện kinh tế nhất định.
Thông qua hoạt động của bản thân, con người lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử-xã hội do loài người phát hiện ra, biến nó thành nhân cách của mình.
Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người phụ thuộc vào hoạt động ở mỗi thời kì, lứa tuổi nhất định. Muốn hình thành nhân cách con người phải tham gia vào các dạng của hoạt động khác nhau, trong đó đặc biệt chú ý tới vai trò của hoạt động chủ đạo, Vì thế phải lựa chọn, tổ chức và hướng dẫn các hoạt dộngđảm bảo bảo tính giáo dục và tính hiệu quả đối với việc hình thành và phát triển nhân cách
Hoạt động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho nên một trong những quy luật của giáo dục là phải thay đổi tính chất hoạt động. phong phú hóa, nội dung, hình thức. cách thức tổ chức hoạt động sao cho lôi cuốn thực sự cá nhân tham gia tích cực, tự giác vào các hoạt động đó
Nhân tố giao tiếp
Giao tiếp là điều kiện tồn tại cá nhân và xã hội loài người. Nhu cầu giao tiếp là một nhu cầu cơ bản, xuất hiện rất sớm ở con người. Chính trong giao tiếp đã diễn ra sự hình thành nhân cách con người
Nhờ giao tiếp con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã hội, chuẩn mực xã hội làm thành bản chất con người, đồng thời thông qua giao tiếp, con người đóng góp tài lực của mình vào kho tang của nhân loại.
Trong giao ti...
 
Top