Chia sẻ đồ án tài liệu các môn đại cương
CNXH Khoa Học Kinh Tế Chính Trị Tư Tưởng HCM Lịch Sử Đảng Xác Suất Thống Kê Giải Tích - Đại Số Vật Lý - Hóa Học
Nội quy chuyên mục: Chia sẻ tài liệu Các môn học đại cương
CNXH Khoa Học
Kinh Tế Chính Trị
Tư Tưởng HCM
Lịch Sử Đảng
Xác Suất Thống Kê
Giải Tích - Đại Số
Vật Lý - Hóa Học
Pháp Luật Đại Cương
Triết Học Mác - Lênin
Môn Đại Cương Khác
By thuyvanphan
#908483

Download miễn phí Đề tài Hệ thống triết học của Heghen





 

1. Lý do chọn đề tài: 1

2. Mục đích và nhiệm vụ 1

3. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. 1

4. ý nghĩa của phương pháp luận. 1

5. Nội dung. 2

A. Nghiên cứu về triết học của Heghen, trước hết ta nghiên cứu về các quan điểm mở đầu làm cơ sở cho toàn bộ hệ thống Heghen. 2

b. Hệ thống triết học của Heghen. 4

II- Thực trạng và giải pháp. 12

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


nghĩa là tìm hiểu xem Heghen có đóng góp gì cho triết học của nhân loại. Với mục đích đó ta cần chịu khó đọc, nghiên cứu tài liệu có liên quan về Heghen, xem xét và nghiên cứu cẩn thận đề hiểu sâu sắc về triết học Heghen, để nắm được hệ thống các tư tưởng cốt lõi của tư tưởng Heghen.
3. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Dựa vào những ấn bản của các nhà xuất bản tin cậy về triết học, trong đó có triết học Heghen, dựa vào tài liệu, kết quả nghiên cứu của các nhà kinh điển viết về Heghen và những suy xét của bản thân ta đã có cơ sở lý luận của đề tài.
Không có triết học Heghen liệu có phép biện chứng duy vật hay không? Điều đó cho ta thấy một vấn đề rằng Heghen có công lao rất lớn trong sự phát triển triết học. Bằng khoa học thực tiễn ta có thể khẳng định điều đó.
4. ý nghĩa của phương pháp luận.
Qua nghiên cứu triết học Heghen chúng ta thấy ông đã khái quát một cáhc sâu sắc và có hệ thống về những vấn đề cơ bản của phép biện chứng, tư tưởng biện chứng của ông là tư tưởng tiến bộ, cách mạng ẩn sau cái vỏ thần bí. Song hệ thống triết học của ông lại là duy tâm bảo thủ, siêu hình và đi ngược lại sự phát triển của tiến bộ, khoa học, cách mạng. Mặt cách mạng của học thuyết Heghen đã đè bẹp bởi sự trưởng thành quá khổ của mặt bảo thủ của nó.
Nghiên cứu triết học Heghen, trước hết phải vượt qua nó, biết được hạn chế và tích cực của nó, không nên "phủ định sạch trơn".
5. Nội dung.
Heghen trong sự phát triển triết học cổ điển Đức là một đại biểu kiệt xuất nhất, bộ óc bách khoa toàn thư của thời đại mình - Gioocvinhem Phơriđơvích Heghen.
A. Nghiên cứu về triết học của Heghen, trước hết ta nghiên cứu về các quan điểm mở đầu làm cơ sở cho toàn bộ hệ thống Heghen.
Thứ nhất, ông xác định mục đích của mình là nghiên cứu tư duy, nhận thức, nghĩa là nghiên cứu tư duy của con người. Tư duy của con người là hoạt động chủ quan của con người song nó lại đóng vai trò khách quan nghĩa là không phụ thuộc vào con người, đó là "ý niệm tuyệt đối" - "tinh thần của thế giới". ý niệm tuyệt đối làm cơ sở cho mọi sự tồn tại, nó là bước phát triển cao nhất của tư duy, là khởi nguyên của mọi sự vật và hiện tượng, là đấng tối cao tạo ra giới tự nhiên và con người, là "thượng đế".
"Tinh thần tuyệt đối" là sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, vật chất và ý thức, chủ thể và khách thể. Nhưng không phải sự thống nhất, đồng nhất trần trụi mà chứa đựng yếu tốt khác biệt, thống nhất trong hoạt động, vận động tương tác lẫn nhau. Tư duy là tư duy chính mình, biến mình thành khách thể đồng thời trở thành cái chủ quan và cái khách quan. Tư duy phản ánh thực tiễn, phản ánh khách thể, khi phản ánh đúng, nó hợp lý. Cái hợp lý, cái thần thánh, cái thực tiễn, cái tất yếu trùng hợp nhau. "Mọi hiện thực đều hợp lý, mọi hợp lý đều là hiện thực".
Qua quá trình nhận thức thế giới, con người xây dựng nên những khái niệm. Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy, nhưng Heghen đã tuyệt đối hoá khái niệm, coi đó là "sự bắt đầu của mọi sự sống", và là hình thức vô hạn sáng tạo, bao hàm bên trong sự hoàn bị của mọi nội dung và đồng thời đóng vai trò nguồn gốc của chính nội dung.
Vậy là Heghen đã đảo lộn quan hệ tồn tại (nguồn gốc của nội dung) và tư duy (khái niệm), coi tư duy là cái có trước tồn tại, nhờ đó mà sự vật hiện hữu. Sự vật có thể mất đi nhưng ý niệm thì vẫn còn mãi.
- Về nguồn gốc của tinh thần: Heghen nêu ra cấu trúc gồm 3 phần: ý thức, tự ý thức và lý tình.
ý thức trải qua: cảm giác, tri giác và giác tính. Cảm giác cho ta hình ảnh từng bộ phận mờ nhạt. Tri giác tổng hợp các cảm giác cho ta sự vật, tri giác đem đến cho ta cái riêng, cái đơn nhất, nhưng trong đó đã chứa đựng cái chung, cái phổ biến. Nhưng sự vật luôn vận động, biến đổi và mâu thuẫn, giác tính không bao quát được nó, ý thức trở thành đối tượng để ta nhận thức, ý thức trở thành tự nhận thức, ý thức xem xét mình như một sản phẩm của lao động xã hội. Lao động đã giải phóng con người khỏi ách nô lệ, đạt đến tự do. Mục đích của "tự ý thức" là đạt đến tự do, chỉ đạt được tự do bằng sự giải phóng bên trong.
Nhận thức không chỉ dừng lại ở tự ý thức mà đạt đến lý tính. Lý tính có ý thức phê phán khoa học, hướng con người đến hạnh phúc, lý tính được biểu hiện trong hành vi và trong đạo đức. Heghen đã đạt đến đỉnh cao của tư tưởng triết học xã hội. Quan điểm về "lý tính lịch sử" là cốt lõi trong triết học lịch sử của ông. Theo Heghen lịch sử không tiến lên như một quá trình tự động, mà được hình thành từ những hành động của những con người riêng lẻ, mỗi người ra sức thực hiện những lợi ích và mục đích riêng của mình. Để theo đuổi mục đích và hành động thực hiện mục đích của con người lại nảy sinh một cái mới nào đó khác với những ý đồ ban đầu của họ. Do đó, trong hoạt động tiếp theo, con người buộc phải coi cái mới này như một tiền đề khách quan. Như vậy, theo Heghen tính ngẫu nhiên trở thành tính tất yếu. Song là một nhà duy tâm khách quan, Heghen gọi quá trình biện chứng vô tận của sự chuyển hoá lẫn nhau giữa cái ngẫu nhiên và tất nhiên là sự "tính không của lý tính lịch sử". Theo Heghen là khởi nguyên của lịch sử toàn thế giới, nó có tính siêu cá nhân, nó tự thực hiện trong lịch sử như là sự phát triển của tinh thần thế giới trong "ý niệm tuyệt đối". Mục đích của lịch sử toàn thế giới là để cho ý niệm tuyệt đối tự nhận thức mình. Trong quá trình nhận thức đó, ý niệm tuyệt đối trải qua nhiều giai đoạn thể hiện trong khái niệm tinh thần nhân dân. Tinh thần nhân dân là sự thống nhất các pháp luật, các cơ quan nhà nước, nghệ thuật, tôn giáo và triết học. Heghen cho rằng "lý tính lịch sử" tự thể hiện theo cách để cho nhân dân mỗi nước được quyền góp phần cống hiến của mình vào quá trình tự nhận thức thep hướng tiến lên của ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giới.
Xét trong toàn bộ hệ thống, Heghen coi lịch sử là sự phát triển của tình thần thế giới, đó là quan điểm duy tâm về lịch sử. Tuy nhiên, ở Heghen không phải không có yếu tố hợp lý trong quan niệm về bản chất của hoạt động sống của con người. Ông đã bàn về bản chất của lao động và ý nghĩa của nó đối với việc hình thành con người và xã hội. Ông cho rằng, chỉ bằng lao động con người mới có thể tạo ra những tư liệu để thoả mãn cuộc sống của mình; lao động là nền tảng phát sinh ra các quan hệ kinh tế. Quan hệ kinh tế đến lượt nó là nền tảng cho sự phân hoá con người về mặt xã hội và nguyên nhân tồn tại cacs đẳng cấp xã hội.
b. Hệ thống triết học của Heghen.
Theo Heghen thì quy luật phủ định của phủ định đóng vai trò là quy luật cơ bản làm cơ sở cho toàn bộ hệ thống.
Hợp đề
Phản đề
Chính đề
Triết học
Tôn giáo
Nghệ thuật
Tinh thần tuyệt đối
Tinh thầng khách quan
Tinh thần chủ quan
Tinh thần tuyệt đối
Triết học tinh thần
Triết học tự nhiên
Giới tự nhiên
Khoa học lô gíc
ý niệm tuyệt đối
Vật

Cơ học
Hoá hữu

Bản chất
Kh...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement