Chia sẻ đồ án, luận văn ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
Hình đại diện của thành viên
By daigai
#1034808 Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nối
MỞ ĐẦU

Việt Nam là nước có tính đa dạng cao về ĐDSH, trong đó có các loài lưỡng cư. Những kết quả nghiên cứu cho đến nay đã xác định được khoảng 208 loài lưỡng cư, trong đó từ năm 1996 đến 2009, có 95 loài lưỡng cư mới được phát hiện (Nguyen et al. 2009). Từ sau năm 2009 đến nay, số lượng đã tăng thêm 31 loài. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào sự đa dạng, phân loại học của các cá thể trưởng thành. Những nghiên cứu về nòng nọc và quá trình biến thái của các loài lưỡng cư còn rất hạn chế.
VQG Bạch Mã có toạ độ địa lý 16005' - 16016' vĩ độ Bắc và 107043' - 107054' kinh độ Đông. Đây là khu vực cuối của khu địa lý động vật Bắc Trung Bộ và dãy núi Bạch Mã - đèo Hải Vân được xem là ranh giới khí hậu hai miền Nam và Bắc Việt Nam. Cho đến nay đã có một số nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát ở Bạch Mã đã được tiến hành bởi các tác giả trong và ngoài nước như Bourret (1927 - 1942), Ngô Đắc Chứng (1995), Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng (1999); Lê Vũ Khôi và cs. (2004), Hoàng Xuân Quang và cs. (2007, 2012). Hiện ghi nhận ở VQG Bạch Mã có tổng số 44 loài lưỡng cư. Về nòng nọc, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện ở khu vực này. Chính vì vậy, chúng tui lựa chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu nòng nọc các loài lưỡng cư ở Vườn quốc gia Bạch Mã”.

1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đánh giá tính đa dạng nòng nọc các loài lưỡng cư ở VQG Bạch Mã, trên cơ sở đó cung cấp thông tin phục vụ cho công tác bảo tồn các loài lưỡng cư ở VQG này. Mục tiêu cụ thể của đề tài như sau:
- Xác định nòng nọc các loài lưỡng cư ở KVNC;
- Mô tả đặc điểm hình thái và phân loại nòng nọc các loài lưỡng cư;
- Đặc điểm môi trường sống và phân bố của nòng nọc.
2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự đa dạng nòng nọc của các loài lưỡng cư ở VQG Bạch Mã.
- Phân tích đặc điểm hình thái phân loại nòng nọc các loài lưỡng cư ở KVNC.
- Mô tả đặc điểm các GĐ phát triển của nòng nọc loài Ếch cây trung bộ Rhacophorus annamensis ở KVNC. Đây là loài bị đe dọa cấp toàn cầu ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2014) ở bậc VU (sẽ bị đe dọa).
- Đặc điểm môi trường sống và phân bố của nòng nọc ở VQG Bạch Mã:
 Phân tích các yếu tố môi trường sống của nòng nọc các loài.
 Sự phân bố nòng nọc các loài theo độ cao ở KVNC.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Lần đầu tiên mô tả đặc điểm hình thái và các GĐ phát triển nòng nọc các loài lưỡng cư ở VQG Bạch Mã.
- Cung cấp thông tin môi trường sống và phân bố của nòng nọc các loài lưỡng cư làm cơ sở cho việc quy hoạch bảo tồn.
4. Những đóng góp mới của đề tài
- Mô tả đặc điểm hình thái, giải phẫu miệng và răng sừng của nòng nọc của 21 loài lưỡng cư ở VQG Bạch Mã.
- Bổ sung cho danh sách lưỡng cư của VQG Bạch Mã thêm 3 loài dựa vào phân loại hình thái nòng nọc.
- Đặc điểm các GĐ phát triển từ GĐ 25 đến GĐ 46 của nòng nọc loài Rhacophorus annamensis ở KVNC.
- Xác định đặc điểm phân bố nòng nọc của 21 loài theo sinh cảnh nơi sống và độ cao của KVNC.
________________________________________

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát về hình thái và sự phát triển của nòng nọc
1.1.1. Đặc điểm hình thái nòng nọc
Đặc điểm hình thái nòng nọc lưỡng cư được mô tả kỹ trong chuyên khảo của McDiarmid & Altig, 1999. Các đặc điểm quan trọng thường dung trong phân loại hình thái nòng nọc gồm hình dạng cơ thể; kích thước, vị trí mắt và mũi; vị trí, hình dạng đĩa miệng, công thức răng, gai thịt viền quanh đĩa miệng; hình dạng, kích thước bao hàm; vị trí lỗ thở; vị trí lỗ mở của ống hậu môn; hình dạng, kích thước cơ và vây đuôi.
1.1.2. Quá trình phát triển biến thái của nòng nọc
Phân chia giai đoạn là sự ghi nhận những dấu ấn hình thái nhất định và thường rất có ích trong việc so sánh trình tự phát triển liên tục của mỗi loài. Với việc sử dụng hệ thống các giai đoạn, mỗi loài có sự khác nhau về kích thước và các thời kỳ phát triển, tuy nhiên giữa chúng vẫn có sự tương đồng ở các giai đoạn.
Sự phân chia quá trình phát triển của nòng nọc từ khi thụ tinh đến khi hoàn thiện biến thái thành 46 giai đoạn của Gosner (1960) trên giống Rana được xem là hợp lý nhất và thường được sử dụng; mỗi giai đoạn có mốc riêng về đặc điểm hình thái và phân biệt rõ với các giai đoạn khác, các căn cứ hình thái dùng để phân chia có thể áp dụng trên nhiều đối tượng khác nhau.
1.2. Lược sử nghiên cứu nòng nọc lưỡng cư
1.2.1. Lược sử nghiên cứu nòng nọc lưỡng cư trên thế giới
Nghiên cứu nòng nọc lưỡng cư trên thế giới được thực hiện từ những năm cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16. Các nghiên cứu về nòng nọc lưỡng cư được thực hiện nhiều ở châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á bởi các tác giả như Inger (1983, 1985); Leong và Chou (1998, 1999); Leong và Lim (2003) ở vùng đồi Fraser, Malaysia. Delorme et al. (2005)... Về giải phẫu phần miệng nòng nọc có các nghiên cứu của Chou và Lin (1997); Grosjean et al. (2003, 2004); Inthara et al. (2005, 2009); Candioti (2007); Haas và Das (2008). Đáng chú ý trong một số nghiên cứu công bố loài mới, ngoài mô tả đặc điểm hình thái phân loại các cá thể trưởng thành còn kèm theo các dẫn liệu hình thái về nòng nọc của loài.
Có thể nói, các hướng nghiên cứu về nòng nọc của các loài lưỡng cư trên thế giới khá đa dạng về hình thái, giải phẫu cũng như sinh học, sinh thái, phát triển của các loài; các đặc điểm giải phẫu miệng được sử dụng trong phân loại học. Điển hình là chuyên khảo về nòng nọc lưỡng cư của McDiamid và Altig (1999).
1.2.2. Lược sử nghiên cứu nòng nọc lưỡng cư ở Việt Nam
Nghiên cứu đầu tiên về nòng nọc lưỡng cư ở Việt Nam có thể kể đến là của Smith (1924). Tiếp đó, nghiên cứu của Bourret (1942) về lưỡng cư vùng Đông Dương đã đề cập đến 44 loài của Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu do các nhà khoa học nước ngoài tiến hành trên các loài thu ở Việt Nam như Grosjean (2001), Ziegler và Vences (2002), Delomer et al. (2005), Grosjean (2005), Hendrix et al. (2007, 2008, 2009), Altig et al. (2009). Các nghiên cứu này đã mô tả nòng nọc của một số loài lưỡng cư thuộc VQG Phong Nha Kẻ Bảng, BTTN Kẻ Gỗ, VQG Bến En, VQG Cát Tiên, Đồng Nai...
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu có sự hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài được thực hiện: Wildennhues et al. (2010) ở KBTTN Tây Yên Tử (Bắc Giang); Rauhaus et al. (2012) nghiên cứu trên các mẫu vật nuôi ở Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và ở Vườn thú Cologne (Đức). Gawor et al. (2012) ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
Thời gian sau này, các tác giả Việt Nam cũng có sự quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu nòng nọc lưỡng cư, đáng chú ý là nghiên cứu trên ếch đồng của Nguyễn Kim Tiến (2000), đã bổ sung thêm 6 giai đoạn phát triển so với phân chia của Gosner năm 1960. Ngoài ra còn một số tác giả khác như Lê Thị Thu và cs. (2008) ở miền núi Tây Nghệ An (2009); Nguyễn Thị Thanh Hương và cs. (2012) ở VQG Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Hoàng Ngọc Thảo và CS. (2013, 2014) ở KBTTN Pù Huống, Nghệ An. Trong các công bố về loài mới ở Việt Nam giai đoạn sau này, dẫn liệu về nòng nọc cũng được mô tả ở các mức độ khác nhau: Boehme et al. (2005), Rowley et al. (2011). Orlov et al. (2012); Nishikawa et al. (2013); Poyarkov et al. (2014); Vassilieva et al. (2014).
Thời gian sau này, các nghiên cứu nòng nọc trong điều kiện nuôi các loài quý, hiếm và có giá trị khoa học, thẩm mĩ như là một giải pháp bảo tồn ngoại vi nhằm bổ sung cho các quần thể tự nhiên, khai thác sử dụng và xuất khẩu cũng được thực hiện (Lê Vũ Khôi và cs., 2009).
1.3. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội khu vực nghiên cứu
VQG Bạch Mã có toạ độ địa lý 16005' - 16016' vĩ độ Bắc và 107043' - 107054' kinh độ Đông, nằm trên địa phận hai huyện Phú Lộc và Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế và một phần diện tích (3.107 ha) thuộc huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam. Địa hình bị chia cắt phức tạp, nhiều dải núi với các đỉnh cao trên 1.000 m chạy ngang theo hướng Tây - Đông và thấp dần ra biển.
Bạch Mã nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 24 - 250C; lượng mưa trung bình 3.440 mm, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 12; độ ẩm trung bình là 85%, từ độ cao 900 m trở lên sương mù hầu như quanh năm bao phủ, tạo nên kiểu khí hậu mát mẻ ôn hoà.
Về tài nguyên động, thực vật: VQG Bạch Mã có 1.728 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 765 chi, 193 họ. Hệ nấm lớn có 332 loài thuộc 132 chi, 55 họ, 28 bộ, 4 lớp trong 3 ngành. Hệ rêu gồm 87 loài của 54 chi thuộc 25 họ trong 2 lớp. Có 599 loài động vật có xương sống, trong đó có 132 loài thú, 358 loài chim, 93 loài lưỡng cư - bò sát, 57 loài cá. Số loài côn trùng được ghi nhận gồm 894 loài.
1.3.5. Tình hình dân sinh
Vùng đệm VQG Bạch Mã có tổng diện tích 58.676 ha. Tổng số có 61.371 nhân khẩu của 12.617 hộ gia đình đang sinh sống ở 11 xã, thị trấn thuộc hai huyện Nam Đông và Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên Huế, 4 xã thuộc huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam. Trong vùng đệm có 4 dân tộc sinh sống là Kinh, Ka tu, Vân Kiều và Mông, trong đó chủ yếu là người Kinh 50.230 người (chiếm 82% dân số vùng đệm), dân tộc Ka tu có 5.567 người (8,6%), các dân tộc khác có 5.574 người (9,4%). Các dân tộc sống tập trung và xen kẽ với nhau nên có sự đan xen và hoà nhập với nhau. Vì vậy những phong tục tập quán bản sắc riêng của từng dân tộc không có sự khác biệt nhiều.
________________________________________

CHƯƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TƯ LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm, thời gian
Nghiên cứu thực địa được tiến hành 8 đợt, từ tháng 10/2010 đến tháng 07/2014 ở VQG Bạch Mã.
2.2. Tư liệu
Phân tích hình thái đối với 602 mẫu nòng nọc. Mẫu vật hiện được bảo quản và lưu giữ tại Phòng thí nghiệm động vật, Trung tâm Thực hành – Thí nghiệm, Trường đại học Vinh.
Số mẫu nuôi: 34 cá thể nòng nọc loài Rhacophorus annamensis, 28 cá thể loài Polypedates mutus, 15 cá thể Ingerophrynus galeatus, 20 cá thể loài Hylarana nigrovitata.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Nghiên cứu thực địa
2.3.1.1. Xác định các điểm và tuyến khảo sát
Sử dụng bản đồ quy hoạch VQG để xác định các địa điểm thu mẫu và định hình các tuyến thu mẫu. Các tuyến thu mẫu thường được xác định dọc theo các con suối trong VQG. Trên mỗi tuyến nghiên cứu, việc thu mẫu được tiến hành ở các sinh cảnh khác nhau, theo độ cao và theo nơi sống của từng loài.
2.3.1.2. Phương pháp thu thập, xử lý và bảo quản mẫu vật
- Mẫu được thu bằng vợt hay bằng tay, vào các thời gian khác nhau trong năm.
- Thu thập các dẫn liệu liên quan đến môi trường, sinh cảnh sống: loại hình thuỷ vực nơi thu mẫu; đặc điểm thuỷ vực; đặc điểm nền đáy thuỷ vực; vị trí nơi thu mẫu: ven khe suối, giữa suối; nhiệt độ, độ ẩm môi trường không khí; nhiệt độ nước; pH nước.
- Mẫu thu được cố định và bảo quản trong dung dịch hỗn hợp gồm cồn 700 + formalin 10% với tỉ lệ 50 : 50. Đối với các mẫu còn nghi ngờ về vị trí phân loại được bảo quản trong cồn 750 hay trong ống nhựa dung tích 1,5-2,5 ml.
2.3.2. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.3.2.1. Phân tích đặc điểm hình thái
- Đặc điểm hình thái nòng nọc được phân tích theo Grosjean S. (2001). Các chỉ tiêu hình thái được đo bằng thước kẹp hiện số có độ chính xác đến 0,01mm dưới kính lúp điện tử soi nổi (Leica SD6) có kết nối với máy vi tính.
- Các giai đoạn phát triển của nòng nọc được xác định theo Gosner (1960) .
2.3.2.2. Phân tích đặc điểm xoang miệng
Các đặc điểm xoang miệng được phân tích gồm: nền miệng, vòm miệng, cấu tạo răng sừng.
2.3.3. Định loại nòng nọc của các loài lưỡng cư
2.3.3.1. Phương pháp hình thái
Nòng nọc các loài ở KVNC được xác định dựa vào tài liệu của Bourret (1942) và tham khảo tài liệu từ các tác giả đã nghiên cứu về nòng nọc lưỡng cư trong nước và các vùng lân cận: Chou and Lin (1997); Grosjean (2005); Hendrix et al. (2007), 2009; Leong and Chou (1999); Smith (1916).
Tên khoa học các loài theo Nguyen et al. (2009) [55].
2.3.3.2. Phương pháp nuôi
Nuôi nòng nọc của 4 loài đến khi hoàn thiện biến thái thành con non để xác định (Rhacophorus annamensis, Polypedates mutus, Hylarana nigrovitata và Ingerophrynus galeatus).
2.3.3.2. Phương pháp định loại mẫu dựa trên phân tích di truyền
Mẫu phân tích ADN được gửi phân tích và so sánh tại Phòng Sinh học phân tử – Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam. Kết quả phân tích trình tự nucleotide của đoạn gen 16S rRNA được giải mã có chiều dài 450 nucleotide của 10 mẫu nòng nọc thu tại VQG Bạch Mã, trong đó đã xác định được 9 loài; có 1 loài hiện đang so sánh nhưng chưa có kết luận.
2.3.4. Nghiên cứu sự phát triển nòng nọc loài Rhacophorus annamensis trong điều kiện nuôi

Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Kết nối đề xuất:
Tìm tài liệu
Thuê xe du lịch
Advertisement