Chia sẻ đồ án, luận văn luật miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
Hình đại diện của thành viên
By tctuvan
#975240 link tải miễn phí tiểu luận
MỞ ĐẦU
Nguyên tắc hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình sự Việt Nam. Biểu hiện chính của nguyên tắc này là hoạt động xét xử phúc thẩm. Theo quy định của Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, bản án và quyết định sơ thẩm không có hiệu lực ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại. Kháng cáo, kháng nghị là quyền của những người tham gia tố tụng và VKS nhằm đảm bảo công bằng, minh bạch, đúng người, đúng tội. Chính vì vậy, việc tìm hiểu về những quy định của pháp luật về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và cùng tìm ra hướng hoàn thiện hơn nữa cho những quy định này là điều rất cần thiết. Sau đây, em xin trình bày đề tài: “Kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này.”
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Chủ thể kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
1. Chủ thể kháng cáo phúc thẩm.
Điều 231 BLTTHS và Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP đã quy định về những người có quyền kháng cáo, cũng như phạm vi kháng cáo của mỗi chủ thể:
a. Bị cáo, người thay mặt hợp pháp ( thay mặt theo pháp luật) của bị cáo: Bị cáo là người chịu trách nhiệm hình sự theo quyết định của bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm, chính bởi vậy, đề đảm bảo quyền lợi của họ, pháp luật quy định họ có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hay quyết định sơ thẩm và không hạn chế hướng kháng cáo. Với những bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hay thể chất thì người thay mặt hợp pháp cho họ là người có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hay quyết định sơ thẩm. Người được tòa án tuyên là vô tội cũng có quyền kháng cáo về phần nhận định của bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội.
b. Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hay người có nhược điểm về tâm thần hay thể chất: Hiện nay, pháp luật chưa nêu rõ phạm vi kháng cáo cũng như hướng kháng cáo của người bào chữa. Quyền kháng cáo này độc lập với việc bị cáo có đồng ý hay không đồng ý. Trong trường hợp người bào chữa kháng cáo, bị cáo vẫn có quyền kháng cáo.
c. Người bảo vệ quyền lợi của đương sự: Người bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hay người có nhược điểm về tâm thần hay thể chất có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi của, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.
d. Người bị hại, người thay mặt hợp pháp ( thay mặt theo pháp luật) của người bị hại: Người bị hại, người thay mặt hợp pháp của người bị hại trong trường hợp người bị hại chết hay trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hay thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hay quyết định sơ thẩm theo cả hai hướng: có lợi hay bất lợi cho bị cáo. Quy định này của pháp luật nhằm đảm bảo tính công bằng và bảo vệ quyền lợi của người bị hại.
*Trong trường hợp người bị hại chỉ kháng cáo phần bản án hay quyết định sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại thì họ có thể ủy quyền cho người khác. Người được ủy quyền có các quyền và nghĩa vụ như người thay mặt hợp pháp của nguyên đơn dân sự…
*Trong trường hợp người bị hại chết mà có từ hai người trở lên đều là người thay mặt hợp pháp của người bị hại (ví dụ cha, mẹ, vợ và con thành niên của người bị hại) thì phân biệt như sau:
- Trường hợp trong quá trình điều tra, truy tố hay tại phiên toà sơ thẩm những người này đã đồng ý cử một người trong số họ thay mặt họ tham gia tố tụng với tư cách là người thay mặt hợp pháp của người bị hại (sự đồng ý này có thể được thể hiện trong văn bản riêng hay trong lời khai của họ), thì sau khi xét xử sơ thẩm những người này vẫn có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hay quyết định sơ thẩm. Việc kháng cáo có thể do từng người thực hiện hay có thể cử một người trong số họ thay mặt họ thực hiện.
- Trường hợp trong quá trình điều tra, truy tố hay tại phiên toà sơ thẩm những người này chưa cử ai trong số họ thay mặt họ làm người thay mặt hợp pháp của người bị hại, mà người thay mặt hợp pháp của người bị hại chỉ do một hay một số người trong số họ tự nhận, nếu sau khi xét xử sơ thẩm có người trong số những người chưa cử người thay mặt có đơn với nội dung khiếu nại bản án sơ thẩm hay xin xét xử phúc thẩm vụ án thì xử lý như sau:
+ Nếu nội dung đơn của họ phù hợp với nội dung kháng cáo của người thay mặt hợp pháp đã tham gia tố tụng, thì Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận để xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung;
+ Nếu nội dung đơn của họ không phù hợp với nội dung kháng cáo của người thay mặt hợp pháp đã tham gia tố tụng hay người thay mặt hợp pháp đã tham gia tố tụng không kháng cáo và trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác kháng cáo, VKS kháng nghị, thì khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án hay quyết định sơ thẩm về phần có liên quan mà họ có khiếu nại hay xin xét xử phúc thẩm vụ án để điều tra lại hay xét xử sơ thẩm lại do vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng;
+ Nếu trong vụ án không có ai kháng cáo, VKS không kháng nghị, thì đơn của họ được coi là đơn khiếu nại đối với bản án hay quyết định sơ thẩm. Trong trường hợp này bản án hay quyết định sơ thẩm sẽ được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm.
e. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người thay mặt hợp pháp của họ cũng có quyền kháng cáo nhưng chỉ với phần bản án hay quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Pháp luật quy định người thay mặt hợp pháp có thể là người thay mặt theo pháp luật hay theo ủy quyền.
f. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự: Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người thay mặt hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hay quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. Do nguyên đơn, bị đơn dân sự tham gia vụ án hình sự để giải quyết vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự, vì vậy, quyền kháng cáo của họ chỉ hạn chế trong phạm vi những phần bản án, quyết định liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.
Những quy định của pháp luật về vấn đề này khá đầy đủ, chi tiết, tuy nhiên bản thân em xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
- Pháp luật cần quy định rõ phạm vi và hướng kháng cáo của người bào chữa.
- Pháp luật cần quy định rõ về hình thức ủy quyền kháng cáo trong các trường hợp được phép ủy quyền.
Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Hình đại diện của thành viên
By qazws001
Kết nối đề xuất:
Nơi này có anh English Lyrics
Synonym dictionary
Advertisement
Advertisement