Chia sẻ đồ án, luận văn luật miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By thantinhyeueros2225
#962195 Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nối
Khái quát chung về bí mật kinh doanh và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh: khái niệm bí mật kinh doanh và quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh; sự hình thành và phát triển của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với Bí mật kinh doanh (BMKD) trên thế giới và Việt Nam; ý nghĩa của việc bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD. Nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh: Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh; xác lập và chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp đối với BMKD; chủ thể quyền SHCN đối với BMKD; nội dung quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh; bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh. Phân tích thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh ở Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi loài người xuất hiện trên trái đất thì đó cũng là lúc các hoạt động
lao động sáng tạo của con người bắt đầu, và hoạt động đó không ngừng vận
động, phát triển. Từ đó đến nay chúng ta đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển,
đã có nhiều phát minh, nhiều nền văn minh lớn ghi lại dấu ấn về khả năng
sáng tạo vô cùng vô tận của con người. Cũng từ lao động, từ quá trình phát
triển theo chiều hướng đi lên, con người tạo ra các sản phẩm tinh thần nhằm
thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình. Chúng ta gọi đó là các tài sản vô
hình và chúng ngày càng chiếm vị trí quan trọng thậm chí không thể thiếu
được trong đời sống vật chất, tinh thần của mỗi con người cũng như đối với
toàn xã hội.
Theo quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, muốn phát triển,
con người buộc phải làm theo đúng những quy luật của nó. Việc bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, … và bí mật kinh doanh là tuân
theo một trong các quy luật đó nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển lành mạnh
góp phần quan trọng làm thay đổi vượt bậc và căn bản mọi mặt đời sống kinh
tế - xã hội của nhân loại.
Khi loài người bắt đầu bước vào giai đoạn sản xuất hàng hóa thì các
thương nhân độc lập cũng bắt đầu biết tích luỹ những kinh nghiệm, những kỹ
năng sản xuất, kinh doanh của mình để tạo nên những ưu thế nhất định nhằm
cạnh tranh với những thương nhân khác. Và cũng để cạnh tranh, một trong
những quy luật của kinh tế thị trường, các thương nhân bắt buộc phải tìm tòi,
sáng tạo, nghiên cứu, tích lũy, phát triển bí quyết riêng. Điều quan trọng là
các bí quyết đó phải được giữ bí mật, không thể tiết lộ cho người khác thì mới
giữ được ưu thế trong kinh doanh. Chính những kinh nghiệm được tích lũy, những kỹ năng đạt được, những bí quyết rút ra được trong quá trình sản xuất
kinh doanh đó mà được chính chủ sở hữu của chúng giữ bí mật được gọi là
“bí mật kinh doanh”.
Ban đầu thì các thương nhân tự bảo vệ bí mật kinh doanh của mình,
các bí mật đó có thể truyền từ đời này sang đời khác. Sau này do nhu cầu mở
rộng kinh doanh, do cạnh tranh ngày càng khốc liệt, hay do những hành vi
cạnh tranh không lành mạnh, việc bảo mật cho các BMKD gặp nhiều khó
khăn. Chính vì vậy, cần có sự góp mặt của công cụ hữu hiệu giúp các
thương nhân bảo vệ bí mật của mình, đó là pháp luật.
Nhu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
xuất hiện cùng với sự phát triển của giao lưu thương mại nhằm bảo vệ quyền
của chủ sở hữu đối với đối tượng sở hữu công nghiệp này. Vấn đề bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh vẫn không ngừng vận
động và phát triển theo hướng mở rộng các quyền năng cho chủ sở hữu, mở
rộng phạm vi đối tượng được bảo hộ. Việc bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với
bí mật kinh doanh không chỉ là vấn đề riêng lẻ của từng quốc gia mà nó từ lâu
đã là vấn đề luôn mang tính toàn cầu trong bối cảnh tự do hóa, toàn cầu hóa
thương mại hiện nay.
Trên thế giới, các BMKD có thể được hình thành, phát triển và tồn tại
từ rất lâu đời nên BMKD đã được quan tâm từ sớm. Đã có nhiều điều ước
quốc tế song phương và đa phương quy định về vấn đề này như Hiệp định về
các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ 1995
(TRIPS), và các hiệp định song phương như Hiệp định thương mại Việt Nam
- Hoa kỳ năm 2000… Các quốc gia hầu như đều có các quy định nhằm bảo hộ
cho BMKD đặc biệt là các nước phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, Đức…
Còn ở Việt Nam, để hội nhập với thế giới chúng ta cũng đã quan tâm
nhiều và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh. Đây là
một trong những động lực khuyến khích và thúc đẩy sự sáng tạo trong kinh
doanh, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh từ đó nó
có tác dụng to lớn đối với sự phát triển của các chủ thể đó và của cả nền kinh
tế - xã hội. Bí mật kinh doanh đang ngày càng trở thành vấn đề được quan
tâm. Một doanh nghiệp muốn phát triển phải nghĩ đến chuyện bảo vệ bí mật
kinh doanh của mình. Đã có nhiều doanh nghiệp thành công và phát triển bền
vững vì có bí mật kinh doanh quý giá của riêng mình và biết bảo mật an toàn
bí mật kinh doanh đó, một thứ vũ khí lợi hại cho sự tồn tại và phát triển trong
thương trường. Thậm chí có những doanh nghiệp tồn tại được là nhờ có được
bí quyết kinh doanh riêng của mình và coi việc giữ gìn bí quyết đó là vấn đề
sống còn của doanh nghiệp. Điều đó cho thấy rõ ràng rằng vai trò quan trọng
của những bí mật trong kinh doanh và nó cần được quan tâm, bảo hộ bởi
những quy định của pháp luật. BMKD cũng cần được coi trọng như một công
cụ thúc đẩy kinh tế phát triển từ phía chính các doanh nghiệp, phía nhà nước
và toàn xã hội.
Cho đến nay, qua khảo sát hạn hẹp của tác giả luận văn, sự nghiên cứu
về bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh ở Việt Nam còn
chưa được quan tâm tương xứng với vai trò của nó đối với sự phát triển chung
của nền kinh tế - xã hội. Những vấn đề về bí mật kinh doanh còn mới mẻ với
đa số các chủ thể kinh doanh và với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trong việc quản lý. Mặt khác, khi tìm hiểu về vấn đề này, chúng tui nhận thấy
đây là vấn đề thời sự hấp dẫn còn ẩn giấu những điều mới của một công cụ
đắc lực mà chúng ta chưa khai thác được nhiều công dụng của nó để phát
triển sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp nói riêng và trong sự
nghiệp phát triển kinh tế đất nước nói chung. Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng các quy định liên quan đến BMKD
còn rất ít, hầu như không xảy ra trên thực tế, hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có
tranh chấp nào xảy ra về BMKD. Điều đó chứng tỏ người dân của chúng ta
nói chung cũng như các nhà kinh doanh nói riêng còn chưa quan tâm nhiều
đến đối tượng này.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tui quyết định chọn “Bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo quy định của pháp
luật Việt Nam” làm đề tài cho luận văn cao học của mình với mong muốn có
cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành và thực
tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật trong nước về bảo hộ bí mật kinh doanh. Hy vọng rằng luận văn hoàn
thành sẽ góp phần nhỏ cho việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí
mật kinh doanh ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO
được hơn 4 năm (Việt Nam gia nhập WTO chính thức từ ngày 11/1/2007),
Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực được 5 năm ( luật này được Quốc Hội thông
qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006). Luật Sở hữu trí
tuệ đã có những quy định mới mẻ, cập nhật những quy định về xác lập quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, quyền tự bảo vệ khi có hành vi
xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu bí mật kinh doanh…
Là một đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, vấn đề bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh cũng đã được quan tâm đề cập
nghiên cứu nhiều nhưng có thể do tính mới mẻ của chúng so với các đối
tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp nên những nghiên cứu đó có thể
chỉ là các khóa luận tốt nghiệp đại học hay là các nghiên cứu mang tính riêng
lẻ, ở một vài khía cạnh trong các bài viết trên các tạp chí trong nước hay  Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, so sánh với các quy định của
các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, từ đó chỉ ra những định
hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí
mật kinh doanh.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận:
chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền sở hữu công nghiệp; thành tựu của
triết học, các chuyên ngành khoa học pháp lý như lịch sử pháp luật, lý luận
nhà nước và pháp luật, luật dân sự, luật sở hữu trí tuệ … và những luận điểm
khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết
trên các tạp chí khoa học về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử
dụng kết hợp các phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng, Phương
pháp duy vật lịch sử, Phương pháp lịch sử cụ thể, Phương pháp thống kê,
Phương pháp luật học so sánh, Phương pháp phân tích - tổng hợp, Phương
pháp điều tra xã hội học …
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sỹ, tác giả tập trung
nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến bí mật kinh doanh cùng với
việc đánh giá thực trạng bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam từ đó đưa ra
những kiến giải nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao kết quả của hoạt động
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng này.
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu một cách tổng hợp về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo quy định của Luật
sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009.
Nghiên cứu một cách hệ thống về bí mật kinh doanh với tư cách là đối
tượng quyền sở hữu công nghiệp và các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo Luật sở hữu trí tuệ 2005.
Dựa vào việc phân tích thực trạng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với bí mật kinh doanh trong thời gian qua, luận văn chỉ ra những kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
bí mật kinh doanh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục những từ viết tắt, Danh mục
các tài liệu tham khảo và Mục lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3
chương với kết cấu như sau:
Chương I: Khái quát chung về bí mật kinh doanh và bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
Chương II: Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
Chương III: Thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với bí mật kinh doanh ở Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. sở hữu công nghiệp khác đặc biệt là so với sáng chế hay kiểu dáng công
nghiệp. Có nghĩa là các chủ sở hữu BMKD không bị chịu ảnh hưởng nhiều
bởi các quy định về hạn chế quyền đó, ví dụ như đối với BMKD không chịu
ảnh hưởng của quy định về người sử dụng trước, quy định về chuyển giao
quyền sử dụng theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Vì có sự giới hạn quyền này mà pháp luật về quyền SHCN đối với
BMKD bên cạnh việc bảo vệ quyền của các chủ sở hữu BMKD mà còn bảo
vệ các chủ thể khác. Việc giới hạn quyền về cơ bản không ảnh hưởng đến lợi
ích của chủ sở hữu BMKD mà đảm bảo được sự công bằng xã hội, tạo điều
kiện cho các quan hệ xã hội phát triển bình đẳng, hài hòa.
Giới hạn quyền SHCN đối với BMKD thể hiện ở chỗ chủ sở hữu
BMKD không được ngăn cấm người khác bộc lộ, sử dụng BMKD trong một
số trường hợp mà pháp luật quy định. Ví dụ trường hợp cơ quan nhà nước có
quyền sử dụng BMKD không nhằm mục đích thương mại như phục vụ nghiên
cứu, giảng dạy, thực nghiệm hay các mục đích phi thương mại khác (điểm c
khoản 3 Điều 125 Luật SHTT). Quy định này xuất phát từ sự giới hạn của
quyền sở hữu công nghiệp, một đặc trưng của các tài sản vô hình, đó là sự
chia sẻ lợi ích của chủ sở hữu đối tượng với các chủ thể khác nhằm làm hài
hòa lợi ích của các chủ thể trong xã hội có liên quan. Nhà nước bảo vệ quyền
cho các chủ sở hữu BMKD nhưng trong chừng mực nhất định cũng bảo vệ
các chủ thể khác trong xã hội để các quan hệ trong xã hội cùng phát triển. Mặt
khác khi cơ quan nhà nước sử dụng BMKD không nhằm mục đích thương
mại như nói ở trên thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc sử dụng BMKD của
chủ sở hữu chúng. Nếu bảo vệ tuyệt đối chủ sở hữu BMKD, không cho bất kỳ
ai sử dụng BMKD ngoài chủ sở hữu thì sẽ cản trở sự phát triển của xã hội.
Quyền sở hữu trí tuệ nói chung và của quyền sở hữu công nghiệp nói riêng có một đặc điểm là được pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền sử dụng các đối
tượng sở hữu công nghiệp nếu như quyền sử dụng này gắn với mục đích
thương mại, kinh tế. Điều này hoàn toàn khác với quyền sử dụng tài sản hữu
hình thông thường khác như nhà đất, máy móc, thiết bị… người sử dụng dùng
chúng vào bất kỳ mục đích gì cũng phải xin phép và trả tiền thuê cho chủ sở
hữu của những tài sản đó. Do đó, việc sử dụng các đối tượng sở hữu công
nghiệp trong đó có bí mật kinh doanh mà không nhằm mục đích kinh doanh
thì không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu cũng như không phải xin
phép hay trả thù lao cho chủ sở hữu.
Do tính chất riêng của BMKD mà khoản 3 Điều 125 Luật Sở hữu trí
tuệ còn quy định các trường hợp chủ sở hữu không có quyền ngăn cấm người
khác sử dụng BMKD, nên ngoài các chủ thể như đã nói ở phần 2.3 trên đây,
pháp luật vẫn cho phép một số chủ thể khác được quyền sử dụng BMKD một
cách hợp pháp. Sự hạn chế quyền trong các quy định này thể hiện đặc trưng
riêng của BMKD, chỉ có chủ sở hữu BMKD mới phải chịu sự ảnh hưởng bởi
những hạn chế quyền đó mà chủ sở hữu các đối tượng SHCN khác không bị
hạn chế. Đó là các trường hợp sau:
Thứ nhất, người nào không biết và không có nghĩa vụ phải biết
BMKD do người khác thu được một cách bất hợp pháp, thì có quyền bộc lộ,
sử dụng BMKD đó. Đây là trường hợp có được BMKD một cách bất hợp
pháp nhưng ngay tình. Ở đây chủ thể này không có lỗi do đó vẫn có quyền
bộc lộ, sử dụng BMKD.
Thứ hai, người nào độc lập tạo ra BMKD cũng có quyền sử dụng
BMKD đó. Con người trong quá trình lao động, nghiên cứu, tìm tòi mà tạo ra
BMKD thì đương nhiên được sử dụng BMKD đó. Đây là kết quả của sự lao

Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Hình đại diện của thành viên
By rica17
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement