Hình đại diện của thành viên
By daigai
#1015847 Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nối

Câu 4: Thế nào là Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam? Phân tích phương
hướng và giải pháp về phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Liên hệ thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội 2
Câu 12: Trình bày các bước đàm thoại? Liên hệ việc tiếp dân, giải quyết các
yêu cầu kiến nghị của công dân 4
Câu 23: Trình bày nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng? 5
Câu 3: Trình bày nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ. Liên hệ thực tiễn việc
thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trên 5
Câu 8: Trình bày Nguyên tắc tập trung, dân chủ được thể hiện trong tổ chức và
hoạt động của Bộ máy Nhà nước CHXH Chủ Nghĩa Việt Nam. Liên hệ việc
thực hiện nguyên tắc trên trong hoạt động thực tiễn? 7
Câu 21: Trình bày điều kiện thành lập công đoàn cơ sở và tổ chức của ban
chấp hành công đoàn cơ sở? 8
Câu 1: Phân tích nguyên tắc: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”.
Liên hệ việc thực hiện nguyên tắc trên 8
Câu 2: Trình bày nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc Hội. Liên hệ thực tiễn việc
thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trên 10
Câu 5: Thế nào là quản lý hành chính Nhà nước? Trình bày nguyên tắc quản lý
hành chính Nhà nước? Liên hệ việc thực hiện các nguyên tắc trên trong hoạt
động quản lý hành chính Nhà nước 12
Câu 6: Phân biệt giữa cán bộ và công chức. Trình bày nghĩa vụ của cán bộ,
công chức. Liên hệ việc thực hiện nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thực tế
13
Câu 7: Trình bày những việc cán bộ, công chức không được làm. Tại sao Pháp
luật hiện hành quy định những việc cán bộ, công chức không được làm? Liên hệ
việc thực hiện nội dung trên trong hoạt động thực tiễn 16
Câu 9: Trình bày Nguyên tắc pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của
Bộ máy Nhà nước CHXH Chủ Nghĩa Việt Nam. Liên hệ việc thực hiện nguyên
tác trên trong hoạt động thực tiễn? 19
Câu 10: Thế nào là văn bản quản lý hành chính Nhà nước? Các loại văn bản
quản lý hành chính Nhà nước. Anh (chị) hãy đánh giá về tình hình các chủ thể
có thẩm quyền ban hành các loại văn bản quản lý hành chính Nhà nước hiện nay
ở nước ta? 19
Câu 11: Trình bày công tác quản lý văn bản. Làm gì để công tác quản lý văn
bản đạt kết quả tốt? 25
Câu 13: Trình bày những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản Việt Nam? 26
Câu 14: cách lãnh đạo của Đảng là gì? Trình bày khái quát phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội 27
Câu 15: Trình bày khái quát hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam
hiện nay? 29
Câu 16: Trình bày chức năng và nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng? 30
Câu 17: Trình bày hệ thống tổ chức Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam? 32
Câu 18: Trình bày hệ thống tổ chức, cơ quan và các chức danh của Hội Nông
dân Việt Nam? 33
1
Câu 19: Trình bày nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 34
Câu 20: Trình bày hệ thống tổ chức, Nguyên tắc tổ chức và nhiệm vụ của Hội
CCB VN 35
Câu 22: cách lãnh đạo của Đảng là gì? Trình bày khái quát phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Chính phủ 36
Câu 24: Trình bày cách lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội 37
Câu 4: Thế nào là Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam? Phân tích phương
hướng và giải pháp về phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Liên hệ thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
1. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
* Khái Niệm.
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; Tất cả
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; Đảm bảo tính tối cao của Hiến Pháp và các
đạo luật; Nhà nước quản lý XH bằng PL đảm bảo phục vụ lợi ích và hạnh phúc của
nhân dân, do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân
dân và chịu trách nhiệm trước dân.
* Đặc trưng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
- Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao quyền
lực Nhà nước.
- Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền: Lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật, đảm
bảo tính tối cao của Hiến pháp và các đạo luật.
- Tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người. Đảm bảo các quyền tự do, dân
chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước và xã hội.
- Tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Nhà nước do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo và chịu sự kiểm tra, giám sát của
nhân dân.
- Nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác, hữu nghị, trên cơ sở tôn
trọng nguyên tắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; tôn trọng và cam kết thực hiện tốt các điều
ước quốc tế đã tham gia.
2. Phân tích phương hướng và giải pháp về phát huy dân chủ, bảo đảm quyền
làm chủ của nhân dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Là nội dung bao trùm trong mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền.
- Đảm bảo dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân được thực thi trên thực tế;
là yếu tố đánh giá của dân, do dân, vì dân trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước.
- Dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện:
* Trong xây dựng Nhà nước.
+ Nhân dân bầu cử đại biểu của mình vào QH và HĐND.
+ Tham gia công việc quản lý nhà nước.
+ Tham gia xây dựng, đánh giá, đóng góp ý kiến vào chính sách, pháp luật, chủ
trương của Nhà nước.
+ Giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước.
2
+ Phát hiện, tố cáo, khiếu nại và yêu cầu xử các hành vi vi phạm pháp luật và các
hiện tượng tiêu cực của cơ quan và cán bộ, công chức Nhà nước.
+ Có quyền yêu cầu các cơ quan Nhà nước công khai mọi hoạt động.
* Trong quản lý xã hội.
+ Nhân dân tham gia với tư cách tự nguyện dựa vào thể chế Nhà nước.
+ Tham gia thông qua các thiết chế phi Nhà nước (các tổ chức Chính Trị-Xã Hội).
+ Tham gia bằng sự phối kết hợp, thông qua các phong trào.
3. Liên hệ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý nhà nước và
xã hội.
* Ưu điểm:
Công dân thể hiện quyền làm chủ của mình tham gia quản lý Nhà nước và xã hội
bằng việc sáng suốt lựa chọn những người có đức, có tài để quản lý Nhà nước và xh.
Khi được bầu là đbiểu QH, đbiểu HĐND, người đbiểu phải liên hệ mật thiết với cử tri,
qua đó để người dân thực hiện quyền quản lý Nhà nước của mình.
Công dân có quyền phản ánh, kiến nghị đến các cơ quan hành pháp, các cơ quan tư
pháp và các cơ quan khác của Nhà nước. Các cơ quan này có trách nhiệm trả lời trước
dân vì những cơ quan này đều gián tiếp được nhân dân trao quyền.
Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân
dân, chịu trách nhiệm trước nd về những quyết định của mình. Vì thế nd có quyền
giám sát Đảng.
Các cơ quan NN, các cán bộ công chức tôn trọng nd, phục vụ nd và liên hệ chặt chẽ,
lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nd. Thông qua mối lhệ đó, công dân thực
hiện quyền qlý NN và XH.
MTTQuốc tập hợp và pháp huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; giám sát, phản biện
xh… trong khi đó, ng dân là thành viên của tổ chức này. Vì vậy, thông qua Mặt trận
và các tổ chức thành viên của Mặt trận, công dân thực hiện quản lý NN và XH
Các cơ quan công quyền thường xuyên báo cáo trước nd nhg vđề thuộc thẩm quyền
qlý của mình: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện chế độ báo cáo trước nd
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về nhg vđề qtrọng thuộc thẩm quyền
của CP, Ttướng CP; Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ báo cáo trước nd về
nhg vđề qtrong thuộc trách nhiệm qly của mình. Chính quyền địa phương các cấp khi
thực hiện việc giải thể, nhập, chia, thành lập đơn vị hành chính từ cấp tỉnh xuống
huyện xã, đều lấy ý kiên nd theo trình tự luật định.
* Hạn chế: Bên cạnh những kqua đạt được, việc thực hiện quyền làm chủ của nd tham
gia qlnn và xh còn một số hạn chế, yếu kém: Một số nơi, việc tổ chức lấy ý kiến nd về
các chính sách, công trình, dự án, chính sách an sinh xh thiếu dân chủ, chưa đúng quy
trình dẫn đến khiếu nại, tố cáo của nd. Không ít cơ quan, đơn vị thực hiện quy chế dân
chủ trong nội bộ còn hình thức, thiếu công khai, minh bạch về các khoản thu, chi. Mộ
bộ phận cán bộ, viên chức nn quan liêu, vi phạm dân chủ thiếu trách nhiệm gây phiền
hà, sách nhiễu làm nd bất bình. Việc quán triệt. Việc triển khai thực hiện quy chế dân
chủ trong các cty cổ phần, cty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp ngoài nn còn
gặp nhiều khó khăn.Không ít các doanh nghiệp vi phạm quy định về thời gian lao
động, tiền lương, BHXH, BH y tế…
* Phương hướng:
Để phát huy quyền làm chủ của nd trong tham gia quản lý nn và xh trước hết đối với
chính quyền cấp cơ sở càng phải tăng cường các hình thức dân chủ trực tiếp, phải thực
hiện cách “ trưng cầu ý dân” khi qđịnh các vđề qtrong như sáp nhập, chia cách
các đvị hành chính-lãnh thổ, phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính, qđịnh các
3
nhvụ có tính chất tự quản của cộng đồng như các công trình dự án do nd đóng góp xd,
các cviệc tôn tạo di tích lsử, phong tục tập quán, truyền thống, lễ nghi…
Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến để nd hiểu rõ về các nội dung trong Pháp lệnh
về dân chủ cơ sở, như những nội dung dân được biết, dân được bàn, dân qđịnh và những
việc dân được kiểm tra bằng các hình thức đa dạng như: loa truyền thanh, phát tờ rơi, tổ
chức hội thi tìm hiểu các nội dung trong Quy chế dân chủ.
Khuyến khích người dân bày tỏ ý kiến với chính quyền theo đúng qđịnh của Pluật,
đặc biệt là khuyến khích sự tham gia của phụ nữ và người dân tộc thiểu số. Đầu tư xd
các mô hình mẫu về tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở để tạo điều kiện tiếp
xúc, trao đổi giữa chính quyền và ng dân.
Thường xuyên tổ chức các khóa bồi dưỡng cho tổ trưởng tổ dân phố, trưởng ấp,
khóm, hướng tới các nội dung chính sau đây: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ
trưởng tổ dân phố; kiến thức qly dân cư, bồi dưỡng nghiệp vụ, bồi dưỡng các kỹ năng
như giao tiếp, hòa giải, tổ chức cuộc họp.
Mở rộng đối thoại giữa chính quyền địa phương với người dân thông qua gặp gỡ trực
tiếp hay trực tuyến (online). Tổ chức các buổi họp báo, buổi “Dân hỏi Chủ tịch
UBND trả lời” ở các cấp chính quyền địa phương… Tăng hiệu quả tiếp dân của chính
quyền, của lãnh đạo các cơ quan hành chính nn thông qua việc xd lịch tiếp công dân
định kỳ, đa dạng hóa các hình thức tiếp công dân.
Câu 12: Trình bày các bước đàm thoại? Liên hệ việc tiếp dân, giải quyết các yêu
cầu kiến nghị của công dân.
1. Trình bày các bước đàm thoại
* Bước 1: Tạo bầu không khí, môi trường giao tiếp tốt
- Thái độ
- Giọng nói
- Cử chỉ hay câu hỏi xã giao thể hiện sự quan tâm
- Ngôn từ
- Chú ý sử dụng cách xưng hô
- Dùng câu hỏi xã giao thể hiện sự quan tâm
- Sử dụng ngôn từ và cách diễn đạt nhã nhặn, lịch thiệp
- Không dùng lời lẽ thiếu nghiêm túc, có tính mỉa mai, châm chọc, xúc phạm người
nghe.
* Bước 2: Xác định rõ nhu cầu người dân
- Lắng nghe để nắm được cốt lõi sự việc, vấn đề
- Tránh phản hồi sớm
- Khẳng định lại vấn đề bằng cách nhắc lại hay hỏi lại
* Bước 3: Giải quyết nhu cầu người dân
- Đúng pháp luật
- Rõ ràng, mạch lạc
- Cặn kẽ, cụ thể, dễ hiểu đối với từng trường hợp, từng đối tượng
- Nói ngắm gọn, cô đọng, đi thẳng vào trọng tâm, diễn đạt theo trật tự logic.
- Giải thích cụ thể thiếu giấy tờ, thủ tục nào
- Giấy tờ nào đã có và đúng
- Giấy tờ, thủ tục nào chưa đúng cần sửa lại
- Giấy tờ nào cần bổ sung
- Tránh nói chung chung kiểu “Thiếu một số, thiếu nhiều, tạm đủ” mà nói rõ “ Thiếu
bao nhiêu, đó là gì? ”, “còn việc gì cần làm. Thứ nhất là…; thứ hai là…”
* Bước 4: Kết thúc cuộc đàm thoại
- Dặn dò, nhấn mạnh và nhắc lại nội dung quan trọng
4
- Ghi lại thông tin ra giấy nếu cần
- Hỏi người dân đã rõ vấn đề và công việc hay chưa, có hài lòng không
2. Liên hệ việc tiếp dân, giải quyết các yêu cầu kiến nghị của công dân.
Hiện nay đội ngũ cán bộ công chức thực hiện công việc của mình tương đối tốt đặc
biệt trong việc tiếp dân. Tạo được bầu không khí gần gũi, thoải mái trong giao tiếp,
thấy được nhu cầu của người dân và tận tâm hướng dẫn, giải quyết những yêu cầu,
kiến nghị của dân. Tuy nhiên còn một số nơi, một số cán bộ công chức chưa làm được
điều đó. Họ mang tâm lý nặng nề, phiền hà cho người dân, trong quan hệ chưa thể
hiện sự quan tâm, lắng nghe và giúp đỡ nhân dân, dùng lời lẽ thiếu tế nhị, chưa hướng
dẫn người dân nhiệt tình, người dân phải đi lại nhiều lần tốn kém nhiều công sức tiền
của. Trong thời gian tới cần chọn kỹ lưỡng cán bộ, công chức đặc biệt là công tác tiếp
dân. Niêm yết rõ các thủ tục hành chính tại cơ quan, hướng dẫn người dân thực hiện
công việc một lần và hẹn trả kết quả theo đúng thời hạn qui định. Trong giao tiếp phải
thể hiện tính tôn trọng, niềm nở, sự quan tâm, yêu thương nhân dân như người thân
của mình.
Câu 23: Trình bày nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng?
2. Nhiệm vụ của TCCSĐ (5 nhiệm vụ).
Điều 23, Điều lệ Đảng quy định: Tổ chức cơ sở đảng có 5 nhiệm vụ:
- Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đề ra chủ
trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả.
- Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức;
thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng,
thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất
trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao
phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác;
làm công tác phát triển đảng viên.
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc
phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị-xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành
đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
- Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi
ích chính đáng của nhân dân, lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và
pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức
đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng.
Đảng ủy cơ sở nếu được cấp ủy cấp trên trực tiếp ủy quyền thì được quyết định kết
nạp và khai trừ đảng viên.
Câu 3: Trình bày nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ. Liên hệ thực tiễn việc
thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trên.
1. Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ
- Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính
phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy
hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân
dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng
nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp
và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;
5
- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác
tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;
- Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ
Quốc hội;
- Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính
sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc
sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước;
- Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo
điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản,
lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường;
- Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an
ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi
hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác
để bảo vệ đất nước;
- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra
và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;
- Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt
điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế
mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hay tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;
- Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;
- Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương;
- Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu
quả.
2. Liên hệ thực tiễn việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trên.
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát
Kinh tế có bước phục hồi
Tái cơ cấu kinh tế đạt kết quả bước đầu
Về tái cơ cấu đầu tư, trọng tâm là đầu tư công….
Một số vấn đề còn tồn tại.
1. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát nhưng chưa vững chắc.
Cân đối ngân sách khó khăn, bội chi cao hơn kế hoạch. Việc thực hiện lộ trình giá thị
trường đối với một số mặt hàng và dịch vụ thiết yếu còn chậm, chưa tạo được sự đồng
thuận cao trong xã hội. Hoạt động của một số tổ chức tín dụng chưa thật an toàn. Thị
trường bất động sản, thị trường chứng khoán còn trầm lắng. Tổng vốn đầu tư phát
triển toàn xã hội so với GDP không đạt kế hoạch. Hiệu quả, sức cạnh tranh của nền
kinh tế còn thấp.
2. Sản xuất kinh doanh còn nhiều khó khăn. Nợ xấu còn cao. Số doanh nghiệp giải
thể, ngừng hoạt động còn lớn. Tăng trưởng GDP chưa đạt kế hoạch (5,4% so với kế
hoạch 5,5%). Công nghiệp tăng trưởng còn chậm. Xuất khẩu nông sản khó khăn, hiệu
quả còn thấp. Khả năng phòng tránh, giảm nhẹ tác hại của thiên tai đối với sản xuất và
đời sống, nhất là sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế.
Đề ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ.
Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát
6
Tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm tăng trưởng hợp lý
Đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế….
Câu 8: Trình bày Nguyên tắc tập trung, dân chủ được thể hiện trong tổ chức và
hoạt động của Bộ máy Nhà nước CHXH Chủ Nghĩa Việt Nam. Liên hệ việc thực
hiện nguyên tắc trên trong hoạt động thực tiễn?
1. Nguyên tắc tập trung, dân chủ
* Cơ sở pháp lý: được quy định tại Đ6 – HP 92.
* Về nội dung yêu cầu của nguyên tắc này là:
- Đảm bảo quyền lực tập trung trong tay Nhà nước thuộc về nhân dân.
- Đảm bảo quyền tự do, dân chủ của nhân dân trong việc tổ chức ra Nhà nước và
kiểm tra, gián sát hoạt động của Nhà nước.
- Mở rộng phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan và cá nhân.
- Phân định rạch ròi và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạnh của mình.
- Tập trung và dân chủ là 2 yếu tố không thể tách rời trong tổ chức và hoạt động của
toàn bộ bộ máy Nhà nước.
* Biểu hiện:
- Tổ chức bộ máy Nhà nước là do nhân dân trực tiếp hay gián tiếp lập nên, theo
nguyên tắc nhất định do pháp luật quy định.
- Nhân dân có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh đứng đầu của các cơ
quan trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước.
- Hoạt động của bộ máy Nhà nước chịu sự kiểm tra, kiểm soát và giám sát của nhân
dân. Theo nguyên tắc cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức.
- Các quyết định của cơ quan Nhà nước đưa ra đều được bàn bạc, thảo luận dân chủ
và quyết định theo đa số.
- Nhân dân có quyền tham gia bàn bạc thảo luận các công việc của Nhà nước khi
Nhà nước trưng cầu ý dân.
2. Liên hệ việc thực hiện nguyên tắc trên trong hoạt động thực tiễn.
Thành tựu đạt đươc:
Chính phủ đã xác định rõ vị trí, chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của mình với
tư cách là cơ quan hành pháp, là cơ quan hành chính cao nhất của tổ chức hệ thống
quyền lực nhà nước. Tổ chức hoạt động, điều hành của chính phủ đã đổi mới từng
bước, tập trung vào việc quản lý vĩ mô, xây dựng cơ chế, chính sách, quy hoạch, chỉ
đạo thực hiện thống nhất kịp thời trong cả nước. Sự phát triển của kinh tế thị trường,
sự gia tăng xu hướng đô thị hóa dưới tác động của đổi mới kinh tế đã làm cho nhiều
vấn đề mới phát sinh, nhiều tình huống phức tạp mới đã xuất hiện, kể cả những ảnh
hưởng tiêu cực, những mặt trái của thị trường xâm nhập vào mọi lĩnh vực, mọi tổ
chức và mọi mối quan hệ xã hội. Chính phủ đã nhận rõ tình hình đó và trong nhiều
trường hợp đã có những chỉ đạo sát sao, nhạy bén, với những biện pháp mạnh và kịp
thời, giải quyết thành công nhiều vấn đề được quần chúng hoan nghênh, đồng tình.
Khuyết điểm và yếu kém:
Bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém trong quản lý
hành chính nhà nước cần khắc phục. Những vụ vi phạm hành chính ngày càng gia
tăng và mức độ nghiêm trọng ngày càng lớn. Sự tùy tiện trong quản lý hành chính nhà
nước, ban hành những quyết định trái thẩm quyền hay vượt quá thẩm quyền là không
ít. Nạn tham nhũng tràn lan thách thức nhà nước và xã hội. Những tập tục lạc hậu
chưa được xóa bỏ, những thiếu sót trong quản lý vĩ mô, ý thức của các cán bộ đảng
viên còn kém, trách nhiệm của từng thành viên, cá nhân chưa được rõ ràng. Trong đời
sống xã hội, nhiều nơi tính tập trung dân chủ không được đảm bảo, vẫn còn nhiều
7
những sai phạm xảy ra, còn nhiều những oan khuất của người dân chưa được làm sáng
tỏ. Tất cả những sai xót, yếu kém đó đã và đang là vấn đề bức xúc, ngăn cản sự phát
triển của đất nước cần được giải quyết, loại bỏ nhằm đảm bảo sự tập trung dân
chủ.
Đề ra giải một số giả pháp chủ yếu để thực hiện tốt nguyên tắc trên:
Một là, Xây dựng nhà nước pháp quyền với sức mạnh tối cao của pháp luật, đảm bảo
cho nhà nước thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân, đảm bảo thực hiện đúng
đắn đường lối chính trị của đảng cộng sản lãnh đạo và được thể chế hóa.
Hai là, tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị theo yêu cầu dân chủ hóa, đảm bảo vai trò
và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng phát huy hiệu lực quản lý hành chính nhà
nước.
Câu 21: Trình bày điều kiện thành lập công đoàn cơ sở và tổ chức của ban chấp
hành công đoàn cơ sở?
* Điều kiện thành lập Công đoàn cơ sở.
Phải có 5 đoàn viên trở nên và được Công đoàn cấp trên quyết định thành lập đối
với: cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các hợp tác xã sản xuất công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ.
* Tổ chức của Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở.
- Số lượng ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở do Đại hội Công đoàn cơ sở
quyết định (từ 3 đến 15 ủy viên).
+ Ban Chấp hành chỉ có 3 người thì bầu Chủ tịch.
+ Ban Chấp hành có từ 4 người đến 8 người thì bầu Chủ tịch và Phó chủ tịch.
+ Ban Chấp hành có từ 9 đến 15 người thì bầu Ban Thường vụ và Chủ tịch, Phó chủ
tịch trong số ủy viên Thường vụ (BCH bầu).
- Khi khuyết ủy viên Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở thì do Hội nghị đại biểu hay
Hội nghị BCH bầu bổ sung. Số lượng ủy viên BCH bổ sung trong nhiệm kỳ không
vượt quá 1/3 số lượng ủy viên BCH do Đại hội bầu ra.
- Ban Chấp hành là cơ quan lãnh đạo của Công đoàn cơ sở, điều hành công việc giữa
hai nhiệm kỳ Đại hội (nhiệm kỳ Đại hội Công đoàn cơ sở 5 năm 2 lần). Ban Chấp
hành Công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn mỗi quý họp ít nhất một lần. BCH làm việc theo
nguyên tắc tập trung dân chủ: tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; thiểu số phục tùng
đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức.
Câu 1: Phân tích nguyên tắc: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”.
Liên hệ việc thực hiện nguyên tắc trên.
1. Phân tích nguyên tắc: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”.
- Ở Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực
Nhà nước. Nhưng quyền lực ấy không nằm trong tay một người hay một nhóm người
mà được tổ chức tập trung lại thành Nhà nước.
- Bằng quyền lực của mình do pháp luật quy định, nhân dân bầu cử lập ra cơ quan
Nhà nước, bầu ra QH và HĐND các cấp và giao toàn bộ quyền lực của mình cho họ;
Đồng thời, thực hiện quyền lực của mình thông qua QH và HĐND các cấp.
- Nhân dân có quyền bãi nhiệm những đại biểu khi họ không còn đủ phẩm chất, năng
lực để thay mặt mình nắm giữ quyền lực Nhà nước.
- QH được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực
Nhà nước cao nhất, có quyền:
+ Lập hiến, lập pháp.
8
+ Quyết định những vấn đề cơ bản nhất về đối nội và đối ngoại của Nhà nước.
+ Thực hiện quyền giám sát tối cao đói với toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước.
- Chính Phủ là cơ quan chấp hành của QH, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất
của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà
nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ trung ương đến địa phương. Thủ
tướng Chính Phủ là do QH bầu trong số đại biểu QH.
- TAND và VKSND là cơ quan được QH giao thực hành quyền tư pháp Nhà nước.
Chánh án TAND Tối cao, viện trưởng VKSND Tối cao là do QH bầu trong số đại biểu
QH.
- HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu
ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.
- UBND là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa
phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến Pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà
nước cấp trên và Nghị Quyết của HĐND cùng cấp.
UBND do HĐND cùng cấp bầu ra bao gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên.
Chủ tịch UBND ở đầu mỗi khóa nhiệm kỳ của HĐND là đại biểu HĐND.
- Nhân dân có quyền trực tiếp tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan
Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, yêu cầu với cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm tới
quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và của nhân dân. Tham gia đóng góp
ý kiến xây dựng Nhà nước, xây dựng chủ trương, pháp luật của Nhà nước.
2. Liên hệ việc thực hiện nguyên tắc trên
Ưu điểm
Trong thực tiễn đời sống xã hội, việc thực thi quyền lực của nhân dân một cách hiệu
quả và bảo đảm nhất là thực hiện tốt quy chế “ đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà
nước quản lý” trên cơ sở nhất quán quan điểm về quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân. Đó là việc trực tiếp bầu đại biểu quốc hội-cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước
cao nhất được cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và
bỏ phiếu kính. Đại biểu Quốc hội sẽ thay mặt cử tri để tham gia quyết định những vấn
đề quan trọng của đất nước. Những đại biểu quốc hội do cử tri bầu ra sẽ được nhân
dân giám sát, đánh giá các hoạt động qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua
tiếp súc cử tri và hoạt động công tác chuên môn của mình ở từng cơ quan, đơn vị.
Trước mỗi kỳ hợp Quốc hội, các đại biểu quốc hội phải tiếp súc cử tri để tìm hiểu
những tâm tư nguyện vọng và ý kiến của cử tri đối với những vấn đề của đất nước,
những vướng mắt bức súc trong đời sống xã hội. Toàn bộ nội dung đó được đại biểu
Quốc hội và các đoàn đại biểu Quốc hội tập hợp, phản ánh với Quốc hội và các cơ
quan nhà nước. Sau mỗi kỳ hợp Quốc hội, các đại biểu Quốc hội sẽ lại tiếp súc cử tri
để báo cáo về kết quả của kỳ hợp cũng như trình bày rõ những việc mà cử tri đề xuất
giải quyết đến đâu.
Quyền phán quyết, quyền tham gia ý kiến của nhân dân để quyết định những vấn đề
quan hệ đối với vận mệnh của quốc gia hay theo “quyết định thực hiện việc trưng cầu
ý dân” của Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức thực hiện. Ngay như vừa
qua, việc xin ý kiến nhân dân về sửa đổi hiến pháp đã được nhân dân tham gia với
hàng trục triệu ý kiến đầy tâm huyết và trách nhiệm. vậy nên khi bhiến pháp được
thông qua, tuyệt đại đa số nhân dân đề thấy có ý chí và nguyện vọng của chính mình
trong đó
Vai trò quyền làm chủ nhân dân thông qua việc dân biết, dân bàn trực tiếp, dân giám
sát, dân tham gia ý kiến sau đó HĐND-UBND quyết định, nhờ đó chính quyền các
9
cấp đã quyết định và giải quyết nhanh chóng, chính xác, kịp thời những vướng mắt mà
nhân dân đã đặt ra, không để tồn đọng công việc, không để xảy ra tình trạng sách
nhiễu, gây phiền hà trong nhân dân; không có tình trạng đơn thư khiếu nại vượt cấp;
các tệ nạn xá hội được ngăn chặn, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
luôn được bảo đảm.
Trong kề hoạch phát triển kinh tế-xã hội dài hạn của từng địa phương, đơn vị, nhân
dân đóng vai trò chủ đạo về tham gia ý kiến trong việc cơ cấu lại cách sản
xuất, dự thảo quy hoạch lại khu dân cư, khu tái định cư; lấy ý kiến nhân dân về dự
thảo kế hoạch triển khai các chương trình y tế quốc gia, nước sạch, về sinh môi
trường, hay phương án đề bù giải tỏ… đề được nhân dân bàn, tham gia ý kiến một
cách công khai, dân chủ; sau đó HĐND-UBND các cấp mới quyết định thực hiện dựa
trên ý kiến của nhân dân.
Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện nguyên tắc”Tất cả quyền lực thuộc
về nhân dân” còn một số hạn chế, yếu kemms: một số nơi, việc lấy ý kiến nhân dân về
các chính sách, công trình, dự án, chính sách an sinh xã hôi…thiếu dân chủ, chưa
đúng quy trình dẫn đến khiếu nại, tố cáo của nhân dân. Không ít cơ quan, đơn vị thực
hiện còn hình thức, thiếu công khai, minh bạch về các khoản thu, chi. Một bộ phânhj
các bộ, công chức nhà nước quan liêu, vi phạm dân chủ, thiếu trách nhiệm gây phiền
hà, sách nhiễu làm dân bất bình. Việc quand triệt, triển khai thực hiện quy chế dân chủ
trong các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp ngoài nhà
nước còn gặp nhiều khó khăn. Không ít doanh nghiệp vi phạm quy định về thời gian
lao động, tiền lương, bảo hiểm xá hội, bảo hiểm y tế…
Phương hướng và giải pháp
Để thực hiện đúng nguyên tắc “tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” trong khi thực
hiện cơ chế :Đảng lãnh đạo, Nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” cần bảo đảm
mhững điều kiện vật chất-văn hóa-xá hội ở một trình độ phát triển nhất định và phải
nâng tầm dân trí. Đó chính là việc bảo đảm sao cho đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân không ngừng được cải thiện, an sinh xã hội bề vững, nhân dân mọi vùng,
mọi miền đều được quan tâm, các dân tộc đề được bình đẳng. Trình độ dân trí thể hiện
ở sự hiểu biết, tôn trọng pháp luật, ký cương, hiểu biết về quy luật phát triểncủa tự
nhiên, xá hội, hiểu biết về thời cuộc và nhiệm vụ, trách nhiệm của mình với xá hội.
Với trình độ dân trí ngày một nâng cao và điều kiện kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội
có những bước phát triển nhất định, quyền lực của nhân dân sã được phát huy, mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh sã được thực hiện một cách
tốt đẹp. Nơi nào biết phát huy quyền làm chủ của nhân dân thì nơi đó xyất hiện các
phong trào hành động cách mạng./.
Câu 2: Trình bày nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc Hội. Liên hệ thực tiễn việc
thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trên.
1. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc Hội.
- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh;
- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của
Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà
nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước; quy
định, sửa đổi hay bãi bỏ các thứ thuế;
10
- Quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước;
- Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội,
các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng
Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về việc thành lập Hội đồng quốc phòng
và an ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;
- Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành
lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành
lập hay giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;
- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái
với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;
- Quyết định đại xá;
- Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và
những hàm, cấp Nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu
vinh dự Nhà nước;
- Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các
biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hay bãi bỏ các điều ước
quốc tế đã ký kết hay tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước;
- Quyết định việc trưng cầu ý dân.
Lấy ví dụ:
2. Liên hệ thực tiễn việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn trên.
- Những ưu điểm đạt được.
Quốc hội khóa XII được bầu ra và hoạt động trong điều kiện sau 20 năm đổi mới, đất
nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng đây cũng là thời điểm kinh tế - xã
hội trong nước và trên thế giới vừa thuận lợi, vừa khó khăn, tiềm ẩn những yếu tố
phức tạp. Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là kinh tế thế giới có nhiều biến động
tiêu cực; quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng; khoa học và công
nghệ phát triển mạnh mẽ; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trở thành một nhiệm
vụ chiến lược; cả nước bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm (2006-2010) và chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI; cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt
động của Quốc hội được hoàn thiện một bước; hoạt động lập pháp được đẩy mạnh
Có 3 yêu cầu lớn đặt ra cho Quốc hội khóa XII là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh; hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế. Bối cảnh lịch
sử và yêu cầu nhiệm vụ đã tác động sâu sắc tới tổ chức và hoạt động của Quốc hội
khóa XII.
- Một số vấn đề còn tồn tại.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm này, cơ cấu tổ chức của Quốc hội cũng còn một
số điểm bất cập. Cụ thể như: số đại biểu chuyên trách tăng lên nhưng vẫn còn thiếu so
với yêu cầu, nhiệm vụ; phạm vi chức năng, nhiệm vụ của các Ủy ban còn rộng; vị trí,
địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH chưa được xác định thật cụ thể; tính chuyên môn hóa
của bộ máy giúp việc chưa cao. Các điều kiện bảo đảm hoạt động còn thiếu. Hoạt
động của Quốc hội vẫn còn một số tồn tại nhất định trong từng lĩnh vực lập pháp,
giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước…
11
- Đề ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội.
Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về sự phân công chức năng, nhiệm vụ của
các cơ quan trong cơ cấu tổ chức Quốc hội
Câu 5: Thế nào là quản lý hành chính Nhà nước? Trình bày nguyên tắc quản lý
hành chính Nhà nước? Liên hệ việc thực hiện các nguyên tắc trên trong hoạt
động quản lý hành chính Nhà nước
1. Khái niệm quản lý hành chính nhà nước:
- Khái niệm quản lý hành chính nhà nước (QLHCNN): Quản lý hành chính nhà nước
là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các
quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt được những mục tiêu,
yêu cầu quản lý do nhà nước đặt ra.
- Đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước:
+ QLHCNN mang tính quyền lực nhà nước: Cơ quan quản lý ban hành các quyết
định quản lý mang tính chất quyền lực đơn phương, bắt buộc các cá nhân, tổ chức
phải chấp hành. Cơ quan QLHCNN có quyền cưỡng chế để thực hiện các quyết định
của mình.
+ QLHCNN được tổ chức chặt chẽ theo quy định của pháp luật: Mọi quyết định
hành chính và hành vi hành chính của cơ quan QLHCNN và cán bộ, công chức đều
phải thực hiện theo đúng thẩm quyền quản lý; trình tự, thủ tục thực hiện hoạt động
quản lý phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
+ QLHCNN có mục tiêu rõ ràng và có chiến lược, kế hoạch để thực hiện mục tiêu:
Mọi hoạt động quản lý đều phải có mục tiêu rõ ràng và nhằm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước.
+ QLHCNN mang tính công khai, dân chủ: Do hoạt động quản lý ảnh hưởng đến cả
xã hội nên mọi hoạt động QLHCNN phải được công khai để nhân dân góp ý, tạo được
sự đồng thuận cao trong xã hội.
2. Nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước
- Đảng lãnh đạo: Đảng lãnh đạo thông qua đường lối, chính sách; các tổ chức đảng
và đảng viên; thông qua công tác cán bộ và công tác kiểm tra.
- Pháp chế Xã hội chủ nghĩa: Nguyên tắc này đòi hỏi mọi cơ quan QLHCNN, cán
bộ, công chức phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ.
- Tập trung dân chủ: Nguyên tắc này yêu cầu các cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương phải phục tùng trung ương; cấp dưới phải phục tùng cấp trên; cấp dưới chủ
động sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng phải chịu sự kiểm tra, giám
sát của cấp trên.
- Hai chiều trực thuộc: Cơ quan hành chính ở địa phương vừa trực thuộc vừa chịu sự
quản lý điều hành của cơ quan hành chính cấp trên đồng thời chịu sự giám sát của cơ
quan quyền lực cùng cấp.
- Trực thuộc thẳng: Mỗi cán bộ, công chức hành chính, mỗi cơ quan hành chính chỉ
có một đầu mối, một người chỉ huy, điều hành để đảm bảo hoạt động quản lý điều
hành có hiệu lực, hiệu quả.
- Cá nhân chịu trách nhiệm: Nguyên tắc này yêu cầu đề cao trách nhiệm cá nhân của
người phụ trách. Bên cạnh đó, cá nhân phụ trách phải huy động được trí tuệ tập thể
trong việc ban hành quyết định nhưng quyết định cuối cùng sẽ do thủ trưởng đơn vị
chịu trách nhiệm.
3. Liên hệ việc thực hiện các nguyên tắc trên trong hoạt động quản lý hành
chính Nhà nước
Ưu điểm.
12
Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý hành chính nàh nước thông qua một hệ
thống các cơ quan hành chính nhà nước; thông qua việc tổ chức hệ thống các tổ chức
kinh tế của nhà nước; thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí đội ngũ cán bộ có
phẩm chất chính trị, có năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
Các tổ chức kinh doanh trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh có tư cách pháp
nhân, hoạt động kinh doanh bình đẳng với nhau trước pháp luật; có quyền tự chủ về
tài chính và thực hiện hạch toán kinh tế; có nhiệm vụ phát huy năng lực kinh doanh có
hiệu quả đạt mục tiêu thu lợi nhuận cao trong khuôn khổ pháp lý và chịu sự quản lý
bằng pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước.
Một số vấn đề còn hạn chế.
Tổ chức và hoạt động quản lý hành chính nhà nước, là một thể thống nhất. Tập trung
dân chủ đối lập với xu hướng cơ quan cấp trên “làm thay” “lấn sân” vào thẩm quyền
của cơ quan cấp dưới, đồng thời phủ nhận việc cơ quan cấp dưới ỷ lại, đùn đẩy cho
cấp trên. Trong thực tiễn quản lý hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang khắc phục bệnh
tập trung quan liêu, đồng thời chống biểu hiện tuỳ tiện, tự do vô chính phủ, cục bộ địa
phương, cục bộ ngành
Câu 6: Phân biệt giữa cán bộ và công chức. Trình bày nghĩa vụ của cán bộ, công
chức. Liên hệ việc thực hiện nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thực tế
1. Phân biệt giữa cán bộ và công chức
* Cán bộ
Cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức
danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện,
quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước.
* Công chức
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hay được bảo đảm từ
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong
các cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Cán bộ
- Về mặt tổ chức: Được hình thành từ con đường bầu cử
- Có nhiệm kỳ, thiếu tính ổn định
- Không có sự phân loại
- Về lương: Dựa vào ngạch công chức
- Về hình thức kỷ luật: 4 hình thức kỷ luật
Công chức
- Được hình thành từ con đường tuyển dụng
- Không có nhiệm kỳ, tương đối ổn định.
- Có sự phân loại
- Có ngạch bậc rõ ràng về tiền lương.
- Có 6 hình thức kỷ luật (Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý)
2. Trình bày nghĩa vụ của cán bộ, công chức
* Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân
- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
- Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.
13
- Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước.
* Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ:
- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn được giao.
- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan,
tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
- Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ
quan, tổ chức, đơn vị.
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.
- Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái
pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp
người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành
phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời
báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
* Nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu:
Ngoài những nghĩa vụ trên đây cán bộ, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ
chức, đơn vị còn phải thực hiện những nghĩa vụ sau đây:
- Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt
động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức;
- Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng,
lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc
quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch,
cửa quyền, gây phiền hà cho công dân;
- Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hay kiến nghị cơ quan có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức;
- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
3. Liên hệ việc thực hiện nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thực tế
Ưu điểm
Phần lớn cán bộ công chức nước ta hiện nay là những người tự nguyện gia nhập và
hoạt động công vụ, được tuyển dụng theo chế độ thuận nhân, làm việc trong các cơ
quan nhà nước để phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, được nhận lương từ ngân
sách nhà nước-thực tế là tiền đóng thuế của người dân vì thế các hoạt động công vụ
trong nề hành chính nhà nước ta hiện nay được thực hiện bởi một lực lượng cán bộ,
công chức có năng lực, trình độ và đạo đức, tác phong khá tốt. Đa phần cán bộ, công
chức đều được đào tạo bài bản, có bản lĩnh trính trị vững vàng, thể hiện sự trung thành
với nhà nước, luôn bảo vệ sự an toàn, danh dự và lợi ích quốc gia, chấp hành đướng
lối, chủ trương của đảng chính sách, pháp luật của nhà nước.
Tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân; có nếp
sống lành mạnh, trung thực, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tham gia sinh hoạt
tốt nơi cư trú.
14
Chấp hành tốt sự điều đọng, phân công của tổ chức, cơ quan có thẩm quyền, chấp
hành quyết định của cấp trên. Có ý thức kỹ luật, thực hiện tốt nội quy, quy chế cơ
quan, bảo vệ công sản. có ý chí vươn lên không ngịa khó, ngại khổ.
Có tinh thần đòa kết, yêu thương nhau, kiên quyết đấu tranh với phân biệt đối xử dân
tộc nam nữ thành phần tín ngưỡng tôn giáo. Tuyệt đối không để xảy ra việc đình công,
không sử dụng tài sản của nhà nước và nhân dân trái pháp luật; lợi dụng, lạm dụng
nhiệm vụ, quyền hạn, sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi.
Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm về năng lực và đạo đức công vụ nước ta vẫn còn nhiều
trường hợp cán bộ, công chức yếu kém về trình độ, chưa qua đào tạo, chưa có tác
phong trong công việc. sự suy thoái về đạo đức, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã
khiến phần lớn cán bộ công chức vi phạm pháp luật.
Việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng chư được tiến hành thường
xuyên, do đó, tình trạng thiếu tinh thần trách nhiệm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
trong thi hành công vụ để trục lợi của một bộ phận cán bộ, công chức vẫn chưa được
khắc phục. tính công khai, minh bạch của hoạt động công vụ chưa được thực hiện một
cách đầy đủ, còn biểu hiện hình thức ở một số cơ quan trong bộ máy nhà nước
Các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, quyền của các bộ, công chức trong thi
hành công vụ còn rất han chế, một số quy định còn chồng chéo, dẫn đến khó khăn,
lúng túng trong việc xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức với trách nhiệm của
công chức trong thi hành công vụ. Các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền hạn,
trách nhiệm còn hạn chế, chưa năng cao tính hoạt động và hiệu quả trong thi hành
công vụ
Điều kiện thực thi công vụ tuy đã được cải thiện nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu
đặt ra; trụ sở, nhà công vụ, trang thiết bị làm việc vẫn còn thiếu thốn, nhất là đối với
cấp huyện, xã và địa phương thuộc miền núi, vuàng sâu, vùng xa, hải đảo địa bàn có
điều kiện kinh tế khó khăn.
Phương hướng
Cần nâng cao nhận thức về trách nhiệm công vụ của đội ngủ cán bộ, công chức
người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Các cấp, các ngành cần xem đây là hạt nhân của
việc nâng cao hiệu quả quản lý và tư duy đổi mới của hoạt động lãnh đạo., điều hành,
là tác nhân nhằm lập lại kỷ cương trong hệ thống chính trị.
Tiếp tục nghiên cứu để xây dựng bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước từ trung
ương đến địa phương theo hướng xá định rõ ràng, minh bạch thẩm quyền và trách
nhiệm môic cấp hành chính. Xóa bỏ tình trạng chồng chéo, trùng lắp chức năng,
nhiệm vụ giữa các bộ, ngành ở trung ương cũng như các cơ quan chuyên môn ở địa
phương
Cần chú trọng nâng cao công tác đòa tạo bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, trình
độ chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức, trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức, bên cạnh những kiến thức, kỹ nâng để nâng cao nâng lực, cần thiết
phải có nội dung về trách nhiệm công vụ và xử lý các vi phạm liên quan đến trách
nhiệm công vụ. Nôi dung này sẽ giúp cán bộ, công chức nâng cao nhận thức, tự giác
thực hiện hành động đúng với bổn phận của mình.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với việc thực hiện Luật cán bộ, công
chức nói chung và nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ nói riêng
là một hoạt động rất cần thiết nhằm đôn đốc, giám sát để phát hiện những hạn chế
trong việc thực hiện công vụ.
15
Câu 7: Trình bày những việc cán bộ, công chức không được làm. Tại sao Pháp
luật hiện hành quy định những việc cán bộ, công chức không được làm? Liên hệ
việc thực hiện nội dung trên trong hoạt động thực tiễn
1. Những việc cán bộ, công chức không được làm:
* Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công
vụ:
- Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết;
tự ý bỏ việc hay tham gia đình công.
- Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật.
- Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ
để vụ lợi.
- Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi
hình thức.
* Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến bí mật nhà
nước:
- Cán bộ, công chức không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới
mọi hình thức.
- Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước thì
trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định nghỉ hưu, thôi việc, không
được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm nhiệm
cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hay liên doanh với
nước ngoài.
* Những việc khác cán bộ, công chức không được làm :
- Cán bộ, công chức không được cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối
với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong khi giải quyết công việc;
- Thành lập, tham gia thành lập hay tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã,
bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác;
- Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài
về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những công việc
thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay mình tham gia giải quyết;
- Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi;
- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu của cơ quan vợ, hay chồng của
những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi
ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện các công việc quản lý;
- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được
bố trí vợ hay chồng, bố, mẹ, con, anh , chị em ruột của mình vào giữ các chức vụ
quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán-tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ
chức, đơn vị hay giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết hợp đồng cho cơ quan,
tổ chức, đơn vị đó;
- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan không được để vợ hoặc
chồng, bố , mẹ, con kinh doanh trong phạm vi do mình trực tiếp quản lý;
- Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó
tổng giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong doanh nghiệp của
Nhà nước không được ký hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc
chồng, bố, mẹ,con, anh, chị,em ruột tham gia các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố
trí vợ hay chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân
16
sự, kế toán- tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hay giao dịch, mua bán
vật tư, hàng hóa ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp;
- Cán bộ, công chức, viên chức không được nhận tiền, tài sản hay lợi ích vật chất
khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết
hay phạm vi quản lý của mình .
2. Tại sao Pháp luật hiện hành quy định những việc cán bộ, công chức không
được làm
Tại vì:
- Rất dễ phát sinh tiêu cực do liên quan đến ngân sách. Trong quá trình thực thi
nhiệm vụ, công vụ có liên quan đến tài sản, ngân sách… nếu không có quy định chặt
chẽ sẽ dẫn đến những hậu quả xấu.
- Trong mối quan hệ gia đình …, nếu không quy định cũng rất dễ bị lợi dụng để
nhằm trục lợi bất chính cho cá nhân
- Vì có liên quan đến chế độ chính trị, an ninh quốc gia, liên quan đến bí mật quốc
gia sẽ làm ảnh hưởng, gây hại đến quốc gia (QP,AN, CT)
- Bảo đảm tính kỷ luật, kỷ cương và ý thức tận tâm phục vụ nhân dân, tân tâm với
công việc.
- Góp phần xây dựng đội ngũ công chức trong sách,vững mạnh. Xây dựng một đội
ngũ cán bộ, công chức luôn tận tâm tận tụy với công việc, thật sự là công bộc của
nhân dân; Có phẩm chất đạo đức tốt…
Pháp luật quy định những việc cán bộ, công chức không được làm vì nếu pháp
luật không quy định sẽ rất dễ phát sinh tiêu cực liên quan đến bí mật nhà nước, đảm
bảo kỷ cương, tận tuỵ phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc, góp phần xây dựng đội ngủ
cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh.
Chẳng hạn, Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà
nước thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định nghỉ hưu, thôi việc,
không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm
nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hay liên doanh
với nước ngoài. Nếu không quy định như vậy sẽ lộ bí mật nhà nước, phương hại đến
lợi ích quốc gia.
Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ có liên quan đến tài sản, ngân sách…nếu
không có quy định chặt chẽ sẽ dẫn đến những hậu quả xấu
Trong mối quan hệ gia đình….nếu không quy định cũng rất dễ bị lợi dụng để nhằm
trục lợi bất chính cho bản thân
Vì có liên quan đến chế độ chính trị, an ninh quốc gia
Xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức luôn tận tâm tận tụy với công việc, thật sự
là công bộc của nhân dân; có phẩm chất đạo đức tốt….
3. Liên hệ việc thực hiện nội dung trên trong hoạt động thực tiễn
Ưu điểm
Phần lớn cán bộ, công chức nước ta hiện nay là những người tự nguyện gia nhập
vào hoạt động công vụ, được tuyển dụng theo chế độ thuận nhận, làm việc trong các
cơ quan nhà nước – thực tế là từ tiền đóng thuế của người dân vì thế các hoạt động
công vụ trong nền hành chính nhà nước ta hiện nay được thực hiện bởi một lực lượng
cán bộ, công chức có năng lực, trình đọ và đào tạo, tác phong khá tốt. Đa phần cán bộ,
công chức đều được đào tạo bài bản, có bản lĩnh chính trị vững vàng, thẻ hiện sự trung
thành với Nhà nước, luôn bảo vệ sự an toàn, danh dự và lợi ích quốc gia; chấp hành
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
17
Tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân; có
nếp sống lành mạnh, trung thực, càn kiệm, liêm chính, chí công vô tư; tham gia sịnh
hợt tốt nơi cư trú.
Chấp hành tốt sự điều động, phan công công tác của cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền, chấp hành quyết định của cấp trên. Có ý thức kỷ luật, thực hiện tốt nội quy cơ
quan, bảo vệ công sản. Có ý chí vươn lên không ngại khó, ngại khổ.
Có tinh thần đoàn kết, yêu thương nhau, kiên quyết đấu tranh với phân biệt đối xử
dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Tuyệt đối không để xảy ra
việc đình công, không sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật;
lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để
vụ lợi.
Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm, đội ngũ cán bộ, công chức nước ta vẫn còn bộc lộ
những hạn chế, yếu kém về lề lối làm việc, trình độ và kinh nghiệm trong quá trình
thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao. Điều này ảnh hưởng đến hiệu qủa quản lý nhà
nước trong lĩnh vực quản lý nhà nước của ở từng địa phương, đơn vị.
Một bộ phạn công chức thực thi công vụ không đúng với trình độ chuyên môn
được đào tạo hay chưa được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ; việc quản lý cán bộ,
công chức một số nơi còn chưa chặt chẽ về thời gian, ý thức, thái độ của cán bộ công
chức trong quá trình thực thi công vụ; việc xử lý những hành vi vi phạm có nơi có lúc
còn chưa ngiêm. Cán bộ, công chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống; có biểu hiện tiêu cực, sách nhiễu, vi phạm pháp luật, gây phiền hà cho
người dân, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước; ý thức, trách nhiệm, thái độ
trong thực thi công vụ, nhiệm vụ của một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao như
việc nhận hồ sơ của tổ chức cá nhân nhưng không giải quyết đúng thời hạn, thậm chí
cố tình dây dưa kéo dài; không sẵn sàng nhận sự phân công, điều động của tổ chức;
thiếu tôn trọng, lễ phép, lịch sự khi giải quyết công việc; vi phạm các quy định của
pháp luật về sử dụng thời giờ làm việc như: làm việc riêng, đi muộn, về sớm, chơi
games, đánh bài, uống rượu, bia trong giờ làm việc,…; chưa tự giác nghiên cứu tài
liệu liên quan dẫn đến không sâu về chuyên môn nghiệp vụ; chưa có kế hoạch, giải
pháp công tác cụ thể nên thiếu chủ động trong thực hiện nhiệm vụ được giao… điều
đó làm ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng công tác và tác phong, uy tín, hình ảnh
của người cán bộ, công chức.
* phương hướng giải pháp
Cần sớm hoàn thiện thể chế về quản lý và sử dụng đội ngủ cán bộ, công chức;
nghiên cứu và sửa đổi chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức như chế độ lương,
phụ cấp ngành, nghề,; đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính; đổi mới cơ chế quản
lý, sử dụng cán bộ, hữu trí, sử dụng và đánh giá cán bộ đúng năng lực, sở trường; phát
huy vai trò của thủ trưởng đơn vị trong việc xây dựng môi trường công tác kỷ luật, kỷ
cương, dân chủ, đoàn kết, tạo động lực cho tập thể phát huy tinh thần, trách nhiệm,
sức sáng tạo trong công tác.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với việc thực hiện Luật cán bộ, công
chức nói chung và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ nói
riêng là một hoạt đọng rất cần thiết nhằm đôn đốc, giám sát để phát hiện những hạn
chế trong việc thực hiện công vụ.
18
Câu 9: Trình bày Nguyên tắc pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của
Bộ máy Nhà nước CHXH Chủ Nghĩa Việt Nam. Liên hệ việc thực hiện nguyên
tác trên trong hoạt động thực tiễn?
1. Nguyên tắc Pháp chế XHCN.
* Cơ sở pháp lý: được quy định tại Điều 8 của HP 2013.
- Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN.
- Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và tăng cường pháp chế XHCN.
* Về nội dung:
- Tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước phải căn
cứ vào pháp luật, trên cơ sở pháp luật mà thực thi.
- Mọi tổ chức và cá nhân phải hoạt động trên cơ sở khuôn khổ của pháp luật, lấy
pháp luật làm thước đo, chuẩn mực đánh giá hành vi.
- Chống mọi biểu hiện tự do, tùy tiện, vô tổ chức, vô chính phủ.
* Yêu cầu của nguyên tắc này:
- Đảm bảo sự điều chỉnh (thống trị) của pháp luật trên tất cả các lĩnh vực hoạt động
của đời sống xã hội.
- Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước chỉ được làm những gì mà
pháp luật cho phép; công dân có quyền được làm những gì mà pháp luật không cấm.
- Đảm bảo quyền dân chủ, bình đẳng trước pháp luật của mọi chủ thể.
- Mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời đúng pháp
luật.
2. Liên hệ việc thực hiện nguyên tác trên trong hoạt động thực tiễn
Ưu điểm:
Từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; Pháp lệnh đã được ban hành tạo
khuôn khổ pháp lý để Nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế-xã
hội, an ninh, quốc phòng Đã có nhiều quyết định cải cách có ý nghĩa quan trọng trên
lĩnh vực xây dựng Nhà nước và pháp luật, làm cơ sở cho đổi mới hệ thống chính trị,
đổi mới tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy trên nhiều lĩnh vực. Dân chủ về
kinh tế ngày càng được mở rộng đã tác động tích cực đến việc giải phóng sức sản
xuất, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống nhân dân
Một số giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt nguyên tắc trên.
Trước hết phải tuyên truyền giáo dục pháp luật sâu rộng trong cán bộ đảng viên và
nhân dân, nhất là nhân dân vùng sâu, để nâng cao ý thức pháp luật, năng lực thực hiện
pháp luật. Không có ý thức pháp luật và am hiểu pháp luật thì không thể tuân theo và
chấp hành nghiêm chỉnh, cũng như không thể áp dụng đúng pháp luật trong quản lý xã
hội.
Câu 10: Thế nào là văn bản quản lý hành chính Nhà nước? Các loại văn bản
quản lý hành chính Nhà nước. Anh (chị) hãy đánh giá về tình hình các chủ thể có
thẩm quyền ban hành các loại văn bản quản lý hành chính Nhà nước hiện nay ở
nước ta?
1. Thế nào là văn bản quản lý hành chính Nhà nước
19
* Khái niệm văn bản quản lý hành chính Nhà nước:
Văn bản quản lý hành chính Nhà nước là những quyết định và thông tin quản lý
(được văn bản hóa) do các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước ban hành theo thẩm
quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định nhằm điều chỉnh các quan hệ quản lý
hành chính Nhà nước giữa các cơ quan hành chính Nhà nước với nhau hay giữa các
cơ quan hành chính Nhà nước với tổ chức và công dân.
* Đặc điểm của văn bản quản lý hành chính Nhà nước:
- Được hình thành trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước;
- Thẩm quyền ban hành do luật định và quy chế hoạt động của cơ quan;
- Phản ánh quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan;
- Thủ tục ban hành và thể thức do Nhà nước quy định
2. Các loại văn bản quản lý hành chính Nhà nước.
* Văn bản quy phạm pháp luật
Là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hay phối hợp ban hành theo thẩm quyền,
hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật và luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung được Nhà
nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
VD: Hiến pháp, luật, Nghị quyết, pháp lệnh,, lệnh, nghị định, Quyết định, Thông
tư…
* Văn bản cá biệt
Văn bản hành chính cá biệt là những quyết định quản lý được cơ quan có thẩm
quyền quản lý hành chính ban hành, trên cơ sở những quyết định chung và quyết định
hành chính quy phạm của cơ quan cấp trên hay cơ quan mình nhằm giải quyết các
công việc cụ thể.
VD: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính…
* Văn bản hành chính thông thường.
Văn bản hành chính thông thường là những văn bản mang tính thông tin điều hành
nhằm thực thi các văn bản quy phạm pháp luật hay dùng để giải quyết các công việc
cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc trong cơ quan, tổ
chức.
VD: Công văn, tờ trình…
3. Đánh giá về tình hình các chủ thể có thẩm quyền ban hành các loại văn bản
quản lý hành chính Nhà nước hiện nay ở nước ta
Ưu điểm (chỉ đánh giá khái quát)
Trong những năm gần đây, hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện
các văn QLHC của các cấp đã đạt được những kết quả đáng kể. Nhiều tỉnh, thành phố
trên cả nước nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng đã có quy chế ban hành văn bản quy
phạm pháp luật. Mặt khác, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây
dựng chương trình, soạn thảo, thẩm định văn bản được nâng lê đáng kể, đặc biệt là
trình độ hiểu biết về pháp luật. Các văn bản quy phạm của các cấp nói chung và tỉnh
Cà Mau nói riêng đã góp phần không nhỏ vào việc quản lý trên mọi lĩnh vực trên cả
nước nói chung và tại địa phương tỉnh Cà Mau nói riêng, đôn gf thời cũng góp phần
triển khai thực hiện tốt những quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Hạn chế:
Hiện nay, trong hệ thống pháp luật nước ta đang song song tồn tại 2 văn bản luật quy
định về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đó là Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân năm 2004 (gọi
tắt là Luật năm 2004) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (gọi
20
tắt là Luật năm 2008). Theo quy định của 2 văn bản luật này, thì đối với các cơ quan,
người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Trung ương, nội dung,
trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo Luật 2008; còn
các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương là Hội
đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp, thì nội dung, trình tự, thủ tục ban hành văn
bản quy phạm pháp luật ngoài việc tuân thủ theo Luật năm 2004 còn được thực hiện
theo Luật năm 2008. Điều này đã dẫn đến một số bất cập trong việc triển khai thực
hiện các luật nói trên ở địa phương. Nhân đây tui xin trao đổi một số vấn đề xung
quanh quy định về nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản
quy phạm pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật năm 2008, thì “Văn bản quy phạm pháp luật
là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hay phối hợp ban hành theo thẩm quyền,
hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hay trong Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có
quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện
để điều chỉnh các quan hệ xã hội”.
Mặt khác, tại khoản 12 Điều 2 Luật năm 2008, thì trong hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật có “văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân”,
và tại Điều 21 Luật năm 2008 quy định “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân được ban hành theo nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình
tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân”.
Như vậy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp khi ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, thì “nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục” được thực
hiện theo quy định của Luật năm 2004, còn các vấn đề khác như: Nguyên tắc xây
dựng, ban hành văn bản, ngôn ngữ kỹ thuật văn bản, tham gia góp ý kiến xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật, hiệu lực và nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp
luật… thì được thực hiện theo quy định của Luật năm 2008. Việc cùng một lúc phải
áp dụng 2 luật đã dẫn đến một số bất cập trong quá trình thực hiện, đó là:
Thứ nhất, về tính khả thi của văn bản
Khoản 2 Điều 1 Luật năm 2008 quy định: “Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành
hay phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy
định trong Luật này hay trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”.
Luật năm 2004 và Luật năm 2008 đã quy định cụ thể, chi tiết các vấn đề về thẩm
quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản để các chủ thể có thẩm quyền
tuân thủ thực hiện. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện, các tổ chức, cá nhân thực
hiện không đúng hay không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thẩm
quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà 2 luật trên
quy định, thì văn bản được ban hành đó không phải là văn bản quy phạm pháp luật.
Đây là một vấn đề khó bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng. Vì theo quy định
trên, trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật nếu thiếu một trong các thủ
tục như lấy ý kiến, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương, hoặc
không gửi hồ sơ đến cơ quan tư pháp thẩm định theo quy định của pháp luật… thì văn
bản đó không được coi là văn bản quy phạm pháp luật.
Thực tiễn trong những năm qua, ở địa phương việc khảo sát, lấy ý kiến góp ý của đối
tượng chịu sự tác động đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ít được thực
hiện, điều này xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng vấn đề cốt lõi nhất
đó là kinh phí cấp riêng cho hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
21
luật còn quá khiêm tốn, thậm chí có địa phương chưa có, trong khi đó hàng năm ở một
tỉnh thông thường Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành khoảng từ
40 đến 60 văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm cả nghị quyết, quyết định, chỉ thị
quy phạm pháp luật). Đặc biệt là các năm đầu của một giai đoạn mới, sau các kỳ Đại
hội Đảng để triển khai, thể chế hóa các văn kiện, nghị quyết của Đảng thành pháp
luật, đòi hỏi phải ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hơn, vì vậy, vấn đề kinh
phí đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn dẫn đến việc thực hiện đúng quy trình
soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật trong khảo sát, lấy ý kiến góp ý của đối tượng
chịu sự tác động khó được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Riêng việc thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, khó có thể khẳng định
chắc chắn rằng tất cả các địa phương trên toàn quốc thực hiện 100% văn bản quy
phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh ban hành được thẩm định
hay lấy ý kiến góp ý của cơ quan tư pháp. Riêng ở tỉnh Quảng Bình, 9 tháng đầu năm
2011, ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 05 quyết định quy phạm pháp luật, nhưng
trong số đó có 04 văn bản quy phạm pháp luật được Sở Tư pháp thẩm định, 01 văn
bản không qua Sở Tư pháp thẩm định. Vậy trường hợp này giải quyết ra sao khi
không coi nó là văn bản quy phạm pháp luật, do đó, không thể áp dụng các biện pháp
sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ hay đình chỉ thi hành theo Điều 9 của Luật
này và nội dung của văn bản này không trái với các quy định của hệ thống pháp luật
hiện hành?
Hiện nay, việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định tại
Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn
bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP). Nhưng tại
Mục 4, Chương III, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP chỉ quy định việc xử lý đối với
trường hợp văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không ban hành theo đúng
hình thức, thẩm quyền. Cụ thể đó là: Văn bản có chứa quy phạm pháp luật do Hội
đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ban hành nhưng không được ban hành bằng hình
thức nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân; văn
bản có chứa quy phạm pháp luật hay văn bản có thể thức và nội dung như văn bản
quy phạm pháp luật do Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các cơ quan
chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện hay người đứng đầu các cơ
quan, đơn vị thuộc ở cấp tỉnh, cấp huyện ban hành mới bị xử lý. Còn việc xử lý đối
với văn bản ban hành không đúng trình tự, thủ tục thì không quy định.
Như vậy, nếu khi xác định được một văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân các cấp ban hành không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của
Luật năm 2004 không phải là văn bản quy phạm pháp luật, vậy nó thuộc loại văn bản
nào? Là văn bản hành chính thông thường hay văn bản chuyên ngành, kỹ thuật? Và
như vậy, nếu áp dụng một văn bản vi phạm trình tự, thủ tục ban hành mà xâm phạm
tới quyền, lợi ích hợp pháp của công dân thì công dân đó có quyền khởi kiện hay
không? Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến đâu, việc xử lý đối với
họ như thế nào khi để xảy ra hậu quả Trước mắt, để hạn chế các hậu quả đáng tiếc
xảy ra, rất mong các cơ quan chức năng sớm tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện đúng trình tự, thủ tục ban hành theo
quy định; đồng thời các cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành văn bản để hướng dẫn
thực hiện nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các hậu quả xảy ra, đảm bảo tính khả thi
của văn bản.
Thứ hai, về quy định một văn bản có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ
nội dung trong nhiều văn bản theo quy định tại Điều 9 Luật năm 2008
22
Tại khoản 3 Điều 9 Luật năm 2008 quy định: “Một văn bản quy phạm pháp luật có
thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ nội dung
trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành”. Nội dung
này chưa được điều chỉnh trong Luật năm 2004.
Để thực hiện quy định này, hiện nay ở nhiều địa phương vẫn đang song song tồn tại
hệ thống pháp luật do nhiều chủ thể ban hành, điều này xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác nhau nhưng nguyên nhân chính là trước đây khi chưa có Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2004, việc xác định chủ thể có thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau dẫn
đến có những văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng ban hành bằng hình thức
văn bản áp dụng pháp luật, có văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Uỷ ban nhân
dân nhưng lại do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ban hành và ngược lại những văn bản
thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân nhưng lại được Uỷ ban
nhân dân ban hành Việc thực hiện quy định này đòi hỏi các cơ quan có liên quan
phải phối hợp chặt chẽ với nhau mới có thể tham mưu thực hiện tốt được, còn nếu
giao cho cơ quan chủ trì soạn thảo thì khó có thể thực hiện được. Quá trình soạn thảo
đòi hỏi cơ quan chủ trì phải rà soát hệ thống hóa các văn bản có liên quan đến nội
dung của dự thảo văn bản cần điều chỉnh; liệt kê, lên danh mục dự kiến các văn bản,
các điều khoản điểm của các văn bản sẽ bị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hay hủy bỏ
Nhưng để làm được điều này, đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, công sức, trí tuệ, đồng
thời các dữ liệu, cơ sở vật chất phục vụ cho việc rà soát phải đầy đủ, đáp ứng yêu cầu
của việc rà soát Bên cạnh đó, để rà soát các quy định có liên quan, đòi hỏi chủ thể
thực hiện phải am hiểu các quy định của pháp luật có liên quan, thường xuyên cập
nhật thông tin từ các văn bản pháp luật mới từ đó mới có thể đưa ra những đề xuất xác
đáng, đúng quy định của pháp luật
Mặt khác, trong quá trình triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật,
không ít các chủ thể có thẩm quyền chỉ triển khai các văn bản điều chỉnh trực tiếp đến
công việc cần triển khai mà không tìm hiểu các quy định của pháp luật có liên quan,
dẫn đến một số trường hợp một số quy định của pháp luật đã hết hiệu lực những vẫn
được thực hiện. ở đây, đơn cử một ví dụ nhỏ, theo quy định tại Điều 264 Luật Tố tụng
hành chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2003 liên quan đến
khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất
đai nếu người có thẩm quyền giải quyết các khiếu nại liên quan đất đai trong quá
trình thực hiện không tìm hiểu các quy định của pháp luật về tố tụng hành chính thì có
thể dẫn đến những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Thứ ba, về hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật
Điều 79 Luật năm 2008 quy định về hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm
pháp luật như sau: Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp
luật mới được quy định hiệu lực trở về trước. Không được quy định hiệu lực trở về
trước đối với các trường hợp sau đây: Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành
vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp
lý; quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.
Tại khoản 2, Điều 51 Luật năm 2004 quy định: Không quy định hiệu lực trở về trước
đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.
Như vậy, Luật năm 2008 cho phép quy định hiệu lực trở về trước của văn bản quy
phạm pháp luật, tuy rằng có cấm các trường hợp cụ thể nhưng Luật năm 2004 bắt
buộc “không được quy định hiệu lực trở về trước của văn bản”. Trong trường hợp này
việc áp dụng văn bản phải được thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 83 Luật
năm 2008, cụ thể: Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ
23
quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định
của văn bản được ban hành sau. Vậy phải áp dung các quy định của Luật năm 2008 để
thực hiện.
Thực tế cho thấy, quá trình thẩm định một số dự thảo văn bản không có sự thống
nhất giữa cơ quan thẩm định và cơ quan soạn thảo văn bản. Một số quy định có lợi
cho địa phương, cho cơ quan nhà nước và thậm chí cho một nhóm đối tượng thì cơ
quan soạn thảo quy định hiệu lực áp dụng hiệu lực trở về trước và họ cũng không phải
là không có lý khi áp dụng quy định này. Vậy, vấn đề này cần giải quyết sao đây?
Trên đây, chỉ là những bất cập thường gặp trong quá trình thực hiện các quy định của
pháp luật có liên quan đến công tác tham mưu quản lý nhà nước về văn bản quy phạm
pháp luật. Chính những bất cập đó đã làm cho các cơ quan có trách nhiệm liên quan
đến công tác văn bản quy phạm pháp luật, nhất là đối với cơ quan tư pháp cấp tỉnh
thường rất khó khăn trong việc thuyết phục cơ quan soạn thảo cũng như cơ quan ban
hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện thống nhất theo Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân nếu có ý kiến khác
nhau. Thiết nghĩ, đây là vấn đề không phải không đáng quan tâm?
Kiến nghị, đề xuất:
Nhận thức lại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam theo hướng: Có
hay không khái niệm “văn bản quy phạm pháp luật” (thực chất là lý thuyết) mà nên có
một đạo luật thống nhất từ trung ương đến địa phương mang tên “đạo luật về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục ban hành văn bản pháp luật”. Trong đó, có thẩm quyền về nội
dung, hình thức và trình tự thủ tục ban hành văn bản pháp luật nói chung. Bởi lẽ, nói
đến pháp luật là nói đến ý chí (áp đặt) của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý
“law is law” chứ không có ngoại lệ; chỉ có trình tự, thủ tục có thể khác nhau;
Đơn giản hoá quy trình, thủ tục. Luật 2004 và 2008 quá cồng kềnh, nhiều thủ tục
không cần thiết, làm giảm tính nhanh nhạy của quá trình ra quyết định.
Pháp điển hoá các văn bản pháp luật hiện hành của cả hệ thống pháp luật để làm rõ
bản chất thẩm quyền nội dung cả các văn bản của HĐND và UBND; khắc phục cho
được sự chồng chéo, dẫn đến thủ tiêu hiệu lực của các luật chuyên ngành khác.
Tăng cường tính minh bạch của quy trình, thủ tục xây dựng văn bản pháp luật. Đối
với chúng ta, do có một Đảng lãnh đạo cho nên, nhiều đạo luật hay văn bản của
HĐND địa phương cần có ý kiến của cấp uỷ. Vì vậy, cũng nên quy định ngay
trong quy trình, thủ tục về giai đoạn xin ý kiến các cơ quan của Đảng, để tránh hiểu
lầm hay kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc.
Hợp thức hoá thẩm quyền cả về nội dung và hình thức của 2 loại chủ thể HĐND và
UBND trên cơ sở cơ cấu lại chính quyền địa phương theo hướng gọn nhẹ, cải cách
hành chính và phân cấp mạnh cho địa phương, cơ sở. Mặt khác, để khắc phục trùng
lắp về phạm vi thẩm quyền nội dung, cần rà soát toàn bộ chức năng, nhiệm vụ của
HĐND và UBND trong điều kiện chuyển đổi cơ chế, chấm dứt hoạt động mang tính
hình thức, kém hiệu quả của HĐND các cấp hiện nay.
Cần làm rõ thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp theo tinh thần của Hiến pháp 1992,
Luật Tổ chức HĐND và UBND 2003 và các luật chuyên ngành khác. Chủ tịch UBND là
một định chế tương đối toàn diện tại địa phương trong giai đoạn cải cách hành chính và
tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương. Ở đây, cần
quán triệt quan điểm trách nhiệm đi đôi với thẩm quyền: Thẩm quyền càng cao thì trách
nhiệm càng lớn (trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân địa phương và trước cấp
trên trực tiếp). Khắc phục cho được quan niệm “sợ người đứng đầu tuỳ tiện”. Chúng ta có
cơ chế giám sát đa phương diện đối với người đứng đầu. Hơn nữa, chúng ta quy định quy
24
trình, thủ tục một cách khoa học, chặt chẽ, chắc chắn sẽ khắc phục được các quan niệm
này.
Bên cạnh việc sửa đổi và hợp nhất Luật 2004 và 2008, cần làm rõ mô hình chính quyền
địa phương (đồng bằng - miền núi; thành thị- nông thôn) để xác định rõ thẩm quyền về
nội dung của từng loại hình chính quyền địa phương.
Rất mong các cơ quan chức năng trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Ban hành
văn bản hợp nhất giữa Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2008 cần xem xét để tham mưu cho Quốc hội ban hành một Luật mới khắc phục
những hạn chế, khiếm khuyết của các Luật hiện hành.
Câu 11: Trình bày công tác quản lý văn bản. Làm gì để công tác quản lý văn
bản đạt kết quả tốt?
1. Trình bày công tác quản lý văn bản
* Công tác văn thư
Khái niệm công tác văn thư
Đó là toàn bộ các công việc giúp lãnh đạo xây dựng, tổ chức quản lý văn bản và các
loại giấy tờ trong hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan hành chính Nhà
nước, theo một quy trình có tính chất bắt buộc, theo sự quy định có tính chất pháp lý.
Nội dung công tác quản lý văn bản:
- Quản lý văn bản các nơi gửi đến
Khi nhận được văn bản đến thì lập tức vào sổ, trình Thủ trưởng xem và cho ý kiến,
chuyển văn bản đến các bộ phận giải quyết theo con đường gần nhất, thuận lợi nhất,
khoa học nhất. Tất cả các loại công văn giấy tờ, bất cứ bằng cong đường nào đến cơ
quan, đều phải qua văn thư đăng ký và quản lý thống nhất. Có kế hoạch theo dõi, kiểm
tra việc giải quyết văn bản đến, đôn đốc phúc đáp đúng thời hạn.
- Quản lý các văn bản sản sinh từ cơ quan gửi đi:
Phải bảo đảm đủ các yếu tố trong thể thức hình thành một văn bản, làm đúng các thủ
tục ban hành , đúng quy chế và nguyên tắc ban hành văn bản. Soát xét lại việc in ấn;
vào sổ gửi đi và tổ chức theo dõi việc thực hiện. Tất cả các công văn giấy tờ gửi đi
đều phải qua văn thư làm thủ tục và có ý kiến của chánh văn phòng hay Trưởng
phòng hành chính.
- Quản lý các loại giấy tờ của cơ quan:
Mẫu giấy tờ, mẫu in sẵn, các loại tài liệu, tư liệu, báo chí, bản tin…
- Quản lý các loại tài liệu mật:
Bảo đảm quy chế biên soạn, in ấn và gửi tài liệu mật và gữi đúng nguyên tắc giữ gìn,
lưu tài liệu mật.
Quản lý các loại con dấu, đóng dấu thực hiện đúng theo Nghị định số110/2004/NĐ-
CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư và quy định của
pháp luật có liên quan.
* Công tác lập hồ sơ
Khái niệm:
Hồ sơ là một tập hợp văn bản, tài liệu có liên quan với nhau về một sự việc, một vấn
đề (hay một người) hình thành trong quá trình giải quyết công việc của các cơ quan.
Các loại hồ sơ trong cơ quan hành chính:
- Hồ sơ công việc
- Hồ sơ nguyên tắc
- Hồ sơ nhân sự
- Hồ sơ trình duyệt, trình ký.
Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Kết nối đề xuất:
Đọc Truyện online