Hình đại diện của thành viên
By daigia721
#986969 Link tải miễn phí luận văn
11. Thông tin chính của luận án:
Luận án đã nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới phát triển NNL PT-TH trong bối cảnh HNQT. Cụ thể các vấn đề sau:
- Tác động của HNQT tới PT-TH nước ta.
- Quan niệm và Đặc điểm NNL PT-TH.
- Yêu cầu của NNL PT-TH trong quá trình HNQT.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và những bài học cho Việt Nam
- Thực trạng NNL và phát triển NNL PT-TH nước ta thời gian qua
- Những hạn chế trong NNL và phát triển NNL PT-TH VN thời gian qua.
- Những nguyên nhân của những hạn chế.
- Những vấn đề đặt ra đối với phát triển NNL PT-TH trong HNQT
- Chiến lược phát triển và Dự báo nhu cầu nhân lực của ngành PT-TH
Trên cơ sở đó, Luận án đã xây dựng hệ thống 5 quan điểm và 8 giải pháp phát triển như sau:
5 Quan điểm:
1. Nguồn nhân lực PT-TH Việt Nam trong quá trình HNQT phải phát triển nhanh, đạt trình độ khu vực và thế giới.
2. Phát triển nguồn nhân lực phát thanh - truyền hình Việt Nam là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội, đặc biệt là của chính ngành phát thanh truyền hình.
3. Phát triển nguồn nhân lực phát thanh - truyền hình Việt Nam phải được thực hiện đồng bộ từ khâu tạo nguồn, tạo nguồn nhân lực chuyên môn và xác định nhu cầu nguồn nhân lực cần thiết đối với sự phát triển toàn diện của các đơn vị, cơ quan phát thanh - truyền hình Việt Nam.
4. Nguồn nhân lực phát thanh - truyền hình phải được phát triển toàn diện trong đó chất lượng là nội dung cơ bản nhất.
5. Phát triển nguồn nhân lực phát thanh - truyền hình phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, thực tiễn của ngành phát thanh - truyền hình và chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
8 giải pháp:
1. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực phát thanh - truyền hình theo hướng hiện đại, hội nhập.
2. Đổi mới mô hình tổ chức phát thanh - truyền hình Việt Nam tinh gọn phù hợp với thời kỳ mới.
3. Xây dựng “hình mẫu” người làm phát thanh - truyền hình Việt Nam.
4. Phát triển “Tâm lực” nguồn nhân lực phát thanh - truyền hình.
5. Đổi mới phương pháp và nội dung tuyển dụng nhân lực.
6. Nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng nhân lực.
7. Nâng cấp các trường đào tạo nguồn nhân lực phát thanh- truyên hình.
8. Xây dựng phương pháp tính định biên lao động cho chương trình phát thanh - truyền hình Việt Nam.
4 kiến nghị:
1. Trong Hệ thống 8 giải pháp mà tác giả đề xuất thực hiện ngày các giải pháp sau:
Thứ nhất, đề xuất xây dựng “hình mẫu” người làm PT-TH Việt Nam, hoàn thành được vào dịp 7/9/2015, sẽ rất có ý nghĩa vì đây là dịp kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống của phát thanh và 45 năm ngày truyền hình Việt Nam.
Thứ hai, đề xuất tính định biên lao động qua mô hình phân tích tương quan, các đề xuất về đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng có thể áp dụng ngay ở các đài PT-TH. Đặc biệt đề xuất xác định lại cách tính tiền lương tăng thêm cho người lao động theo tinh thần Nghị định 43 nên được triển khai ngay.
Thứ ba, đề xuất xác định mô hình quản lý PT-TH nước ta, ngành PT-TH cần có kiến nghị với Chính phủ để xem xét sửa đổi dịp Đại hội XII của Đảng (2016).
2. Đối với vấn đề chảy máu chất xám do tác động của kinh tế thị trường và HNQT. Đây có lẽ là vấn đề lớn của các ngành khác, nhưng đối với ngành PT-TH, như tác giả đã phân tích thì thực tế vẫn là ngành “hot” vẫn là mơ ước của nhiều người ở Việt Nam. Thực tế trong những năm qua, vấn đề này diễn ra không trầm trọng, và không có tác động quá lớn đối với các đài PT-TH.
3. Đối với vấn đề phát triển NNL PT-TH đặc thù là NNL làm PT-TH bằng tiếng dân tộc và PT-TH đối ngoại. Tác giả kiến nghị thực hiện các giải pháp chung trong Luận án này và áp dụng thực hiện các đề xuất, kiến nghị trong các công trình nghiên cứu sau:
a. Đề tài NCKH cấp Bộ (2007): Phát triển NNL làm phát thanh bằng tiếng dân tộc ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, của Ths.Kim Ngọc Anh.
b. Đề tài NCKH cấp Bộ (2004): Một số giải pháp nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác phát thanh đối ngoại trong giai đoạn hiện nay, của TS. Trần Thị Tri, Đài Tiếng nói Việt Nam.
c. Đề tài NCKH cấp Bộ (2007): Nhu cầu và khả năng tiếp nhận phát thanh bằng tiếng dân tộc ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, của PGS.TS Vũ Quang Hào.
4. Giải pháp thứ 6, nội dung 3.4.6.3 “Xây dựng hệ giá trị văn hóa của các đài PT-TH”, tác giả mới chỉ nêu tính cấp thiết cần xây dựng hệ các giá trị văn hóa, cơ sở để xây dựng và giá trị cốt lõi của hệ giá trị văn hóa, như là giải pháp có tính tác động để phát triển NNL ngành PT-TH.




MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đề tài “Phát triển Nguồn nhân lực phát thanh - truyền hình Việt Nam đáp
ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế” đề cập tới nhiều địa hạt, đó là: nguồn
nhân lực (NNL), NNL phát thanh - truyền hình (PT-TH), phát triển nguồn nhân lực và
hội nhập quốc tế (HNQT). Câu hỏi đầu tiên tác giả Luận án này muốn trả lời, đó là: Vì
sao chúng ta phải nghiên cứu Đề tài này? Xin nêu những lý do chính, gồm 2 lý do
khách quan và 2 lý do chủ quan:
1.1. Lý do khách quan
Thứ nhất,nhƣ chúng ta đã biết thế giới đang bị chi phối mạnh mẽ bởi xu thế
toàn cầu hóa. Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới thông qua nhiều cơ
chế hợp tác song phƣơng, đa phƣơng,…Trong bối cảnh đó, PT-TH là một trong những
ngành có cơ hội cũng nhƣ đòi hỏi hội nhập cao. Mặc dù có truyền thống và bề dày lịch
sử gắn với quá trình bảo vệ và xây dựng đất nƣớc, nhƣng PT-TH nói riêng và báo chí
nói chung đang chịu tác động mạnh của Toàn cầu hóa thông tin, Quốc tế hóa báo chí,
đa phƣơng tiện và thƣơng mại hóa,…Đòi hỏi báo chí và ngành PT-TH phải có những
thay đổi và điều chỉnh để nắm bắt cơ hội và chủ động với thách thức mà HNQT mang
lại.
Thứ hai, tại sao lại nghiên cứu phát triển NNL mà không phải là các yếu tố
khác nhƣ: phát triển công nghệ sản xuất? phát triển quy mô hay phát triển dịch vụ PT-
TH?Bởi trong các nguồn lực cho phát triển đất nƣớc nói chung và các tổ chức nói
riêng thì nhân lực đƣợc cho là quan trọng nhất, có tính quyết định. Chỉ có con ngƣời
mới có khả năng tiếp thu và vận dụng sáng tạo mọi nguồn lực khác. Đặc biệt đối với
ngành báo chí thì NNL lại càng quan trọng hơn, bởi nhƣ Lenin đã nói: Nói tới báo chí
tức là nói tới người làm báo.
1.2. Lý do chủ quan
Thứ nhất, PT-TH là 2 trong 4 loại hình báo chí hiện đại là báo giấy, báo mạng,
báo nói và báo hình. Phát thanh Việt Nam ra đời ngay sau khi nƣớc ta giành độc lập
(7/9/1945) nhƣng sau sự ra đời của phát thanh thế giới gần 50 năm. Còn Truyền hình
nƣớc ta thì tới năm 70 của thế kỷ trƣớc mới đƣợc phát thử nghiệm ở miền Bắc. Qua
gần 70 năm xây dựng và phát triển, PT-TH Việt Nam không chỉ phát triển toàn diện về
quy mô, trang thiết bị công nghệ mà cả về nguồn nhân lực. Từ chỗ chỉ có công suất
phát sóng 5kw và gần 20 ngƣời từ những ngày đầu thành lập năm 1945, đến nay ngành
PT-TH Việt Nam đã trở thành một hệ thống truyền thông hiện đại đƣợc tổ chức từ
Trung ƣơng xuống địa phƣơng với 67 Đài PT-TH, sở hữu trang thiết bị kỹ thuật công
nghệ ngang tầm thế giới, với công suất hàng chục ngàn kilowatt (phát FM, sóng trung,
sóng ngắn, cab, vệ tinh, analog, digital, Internet) và có nguồn nhân lực lên tới hơn 30
ngàn ngƣời.
Do đặc điểm của lao động ngành báo chí, nhân lực ngành này nói chung và
nhân lực trong lĩnh vực PT-TH nói riêng không đơn thuần là những ngƣời hoạt động
văn hóa xã hội thuần túy mà thực sự là đội quân chủ lực trong đời sống tinh thần cũng
nhƣ công cụ thực hiện các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nƣớc trên mặt trận tuyên truyền,
chính trị, văn hóa, đối ngoại, giáo dục, an ninh, quốc phòng,…Trong xu thế toàn cầu
hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò của PT-TH nói chung, phát triển nhân lực
trong ngành này nói riêng càng trở nên cấp thiết.
Thứ hai, là ngƣời đã có 15 năm công tác trong ngành PT-TH Việt Nam, trong đó
có 8 năm phụ trách và là Giám đốc phát triển nguồn nhân lực của Đài TNVN và Hệ
thống phát thanh Việt Nam. Đặc biệt, tui đã có hơn 3 năm kinh nghiệm tham gia thiết
lập và vận hành một kênh truyền thông hiện đại, kênh phát thanh VOV giao thông của
Đài TNVN. Và từ năm 2011 tới nay, với cƣơng vị là Hiệu Trƣởng Trƣờng CĐ PT-TH
của Đài TNVN tại thành phố Hồ Chí Minh, có sứ mệnh đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực cho hệ thống PT - TH nƣớc ta. Ở mỗi cƣơng vị công tác nhƣ vậy, tui đã dành nhiều
thời gian và công sức nghiên cứu để nhận biết đƣợc thực trạng những mặt mạnh cũng
nhƣ những tồn tại trong công tác phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực PT-TH nƣớc
nhà. Bên cạnh đó, tui cũng đã đƣợc Lãnh đạo Đài TNVN cử đi tìm hiểu, nghiên cứu
chính sách phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực PT-TH của Trung Quốc,
Singapore, Đức, Hà Lan, Malaysia, Nga, Hungary.
Từ những lý do trên, có hai câu hỏi lớn đặt ra cho PT-TH VN trong quá trình
15
HNQT là: 1-Hội nhập quốc tế đặt ra cho NNL PT-TH nước ta những yêu cầu gì?
Và 2-cần làm như thế nào để phát triển NNL PT-TH VN đáp ứng các yêu cầu
đó? Đây cũng là 2 câu hỏi mà Luận án “Phát triển nguồn nhân lực phát thanh -
truyền hình Việt Namđáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế”cố gắng trả
lời. Đó vừa là yêu cầu khách quan vừa là nhu cầu tự thân, cấp bách của hệ thống PT-
TH nƣớc ta.
2. Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Để triển khai Luận án này tác giả đã tham bác nhiều công trình trong và ngoài
nƣớc, sau đây xin đƣợc báo cáo tổng quan về những công trình này:
2.1. Tổng quan nghiên cứu trong nước
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề
cập đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực. Các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh
về tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển bền vững,
trong đó có nguồn nhân lực ngành PT-TH; đồng thời đƣa ra những kiến nghị khoa học
về các định hƣớng và giải pháp đối với vấn đề này. Nhiều nội dung đã khẳng định về
lý thuyết khoa học mang tính tổng quan giải quyết những vấn đề ở tầm vĩ mô , đặc biệt
đối với phát triển nguồn nhân lực nói chung , đồng thời cũng cho thấy những vấn đề
phát triển nguồn nhân lực nganh PT-TH có tính đặc thù, còn nhiều khoảng trống cần lý
giải kịp thời. Các công trình cũng đã đề cập và lý giải những vấn đề về kinh tế nguồn
nhân lực đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế và đổi mới sâu rộng của nền kinh tế
trong nƣớc. Các công trình cũng đã phần nào cập nhật kiến thức hiện đại, tiếp thu các
phƣơng pháp kinh tế và quản lý nguồn nhân lực tiên tiến. Sau đây tác giả xin phân tích
một số công trình liên quan tới vấn đề đề tài nghiên cứu:
1) “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Hữu
Dũng, NXB Lao động - Xã hội, H, 2003.
Đây là công trình xuất bản đã khá lâu, nhƣng lại nghiên cứu lý luận và tổng kết
15 năm đổi mới của đất nƣớc liên quan đến phát triển, phân bố và sử dụng nguồn lực
con ngƣời trong phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam. Công trình gồm 3 chƣơng đã kiến giải những vấn đề chung về nguồn nhân lực
và vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế thị trƣờng; đánh giá thực trạng phát
triển và phân bố, sử dụng nguồn lực con ngƣời ở Việt Nam trong những năm đổi mới;
trên cơ sở đó, tác giả gợi ý các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý
Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement