Bình luận xu hướng thị trường
Nội quy chuyên mục: Công cụ hữu ích: Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Hình đại diện của thành viên
By daigai
#1022247 Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nối

TÓM LƯỢC…………………………………………………………………….. ..... 1
1. GIỚI THIỆU…………………………………………………………………. 2
2. TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT…………………………………………...5
2.1 Khái quát về IPO và sự định dưới giá IPO……………………………….5
2.1.1 Các vấn đề cơ bản về IPO…………………………………………………… 5
2.1.2 Những cơ chế xác lập giá IPO……………………………………………….7
2.1.3 Định dưới giá IPO……………………………………………………………..8
2.2 Bằng chứng thực nghiệm về định dưới giá IPO trong ngắn hạn…………. 10
2.3 Nghiên cứu các nhân tố tác động đến dưới giá IPO………………………. 13
2.3.1 Tỷ lệ nguồn vốn được nội bộ nắm giữ……………………………….. 14
2.3.2 Sự trợ giá của nhà bảo lãnh phát hành……………………………….. 14
2.3.3 Tỷ lệ mua vượt mức……………………………………………………… 15
2.3.4 Độ trễ niêm yết…………………………………………………………… 16
2.3.5 Giá phát hành……………………………………………………………..17
2.3.6 Tuổi của công ty phát hành……………………………………………...18
2.3.7 Quy mô của công ty phát hành………………………………………….18
2.3.8 Quy mô phát hành………………………………………………………. 19
2.4 Thị trường IPO tại Việt Nam…………………………………………... 19
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU…………………………... 27
3.1 Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………. 27
3.2 Dữ liệu……………………………………………………………………. 28
3.3 Mô hình và các biến……………………………………………………… 28
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU…………………………………………………. 31
4.1 Bằng chứng định dưới giá các IPO tại HOSE trong ngắn hạn……………. 31
4.2 Giải thích các nhân tố tác động đến mức độ định dưới giá IPO tại HOSE.. 38
4.3 Kiểm định độ tin cậy của mô hình………………………………………... 43
4.4 Kiểm định mô hình với các biến kiểm soát……………………………….. 46
5. KẾT LUẬN……………………………………………………………….. 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………. ...... .
PHỤ LỤC BẢNG……………………………………………………………. ........ ....

Bài nghiên cứu này xem xét mức độ định dưới giá IPO trên mẫu 49 đợt IPO tại
HOSE trong giai đoạn 2005 - 2012. Nghiên cứu làm sáng tỏ các yếu tố quyết định
đến mức độ định dưới giá IPO trong bối cảnh một thị trường chứng khoán sơ khai
được đặc trưng bởi sự bất cân xứng thông tin cao, hiệu quả thông tin thấp, tính
thanh khoản thấp và những nhà đầu tư ít thông tin1. Kết quả cho thấy, trung bình tỷ
suất sinh lợi ban đầu được điều chỉnh theo thị trường cho ba ngày giao dịch đầu tiên
lần lượt là 22,99%, 23,6% và 23,16%. Việc định giá thấp có liên quan đến giá phát
hành, quy mô công ty và quy mô phát hành. Tỷ lệ đăng ký vượt mức, tỷ lệ vốn được
nắm giữ nội bộ, độ trễ niêm yết, tuổi của công ty dường như không làm giảm khoản
thu nhập trên danh nghĩa của nhà phát hành. Nó cho thấy việc định dưới giá bị dẫn
dắt bởi những nhà đầu tư phi lý trí tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn. Nhìn chung,
kết quả chỉ ra rằng nhà đầu tư dựa vào thông tin xung quanh IPO để đưa ra các định
giá IPOs.
Từ khóa: IPO, định dưới giá

1. GIỚI THIỆU
Việc cổ phần hóa đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong vòng đời của một công
ty, là con đường để đại chúng vốn cổ phần, từ đó giảm chi phí tài trợ cho hoạt động
của công ty và hoạt động đầu tư. Bên cạnh đó, với chủ trương cổ phần hóa các
doanh nghiệp Nhà nước và chuyển đổi hình thức sở hữu tư nhân. Phát hành lần đầu
cổ phiếu ra công chúng (IPO) trở thành một trong những hoạt động sôi nổi nhất,
được quan tâm nhiều nhất của giới đầu tư diễn ra trên thị trường chứng khoán Việt
Nam trong suốt những năm 2005 – 2012. Bên cạnh đó, một trong những đặc điểm
của IPO trên thế giới đó là định giá IPO thấp, và mức độ định giá thấp này là khác
nhau giữa các quốc gia, giữa thị trường phát triển và thị trường mới nổi. Một số
nghiên cứu dựa trên thực nghiệm đã ghi nhận rằng ban đầu có sự tồn tại của các
hiện tượng dưới giá đối với các công ty mới niêm yết trong những ngày đầu của
giao dịch. Các nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu về thành quả của IPO ở thị
trường Mỹ. Ibbotson (1975) cho thấy tỷ suất sinh lợi bất thường trung bình là
11,4%. Purnanadam và Swaminathan (2004) cho thấy tỷ suất sinh lợi từ 14% đến
50% tùy thuộc vào tiêu chí sử dụng phù hợp. Mới đây hơn, Jay R.Ritter (2013) dựa
trên khảo sát của họ về các nghiên cứu IPO dưới giá cho thấy tỷ suất sinh lợi ban
đầu trung bình là 17,9%.. Tuy nhiên đây là một vấn đề vẫn còn đang gây tranh cãi
rất nhiều khi mà với cấp độ quốc tế, hầu hết các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các kết
quả khác so với kết quả của các nhà nghiên cứu Mỹ. Ở thị trường Đức, Ljungqvist
(1997) sử dụng một mẫu 189 công ty trong giai đoạn 1970-1993 cho thấy việc định
giá thấp ban đầu khoảng 10,9%. Ở Pháp, Jacquillat cùng MacDonald (1974) và
Dubois (1987) chỉ ra mọi định giá thấp ban đầu tương ứng khoảng 4,2% và 19%.
Trong bối cảnh thị trường mới nổi, một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng IPO ở Trung
Quốc có tỷ suất sinh lợi ban đầu cao nhất thế giới. Trong số đó, Mok và Hui (1998),
Tian (2003), Chan và cộng sự (2004), Larry và cộng sự (2008) chỉ ra rằng việc định
giá thấp khoảng giữa 100-300%. Mức độ này cao hơn nhiều so với mức trung bình
60% trong thị trường mới nổi (Jenkinson và Ljungqvist, năm 2001). Ví dụ, Yong và

Isa (2003) cho thấy lợi nhuận ban đầu trung bình là 80,3% đối với các đợt IPO ở
Malaysia trong giai đoạn 1980-1991. Gần đây hơn, Agarwal và đồng sự (2008) cho
thấy tỷ suất sinh lợi ban đầu trung bình là 20,8% đối với IPO ở Hong Kong. Cuối
cùng, Kiymaz (2000) ghi nhận một mức dưới giá trung bình là 13,6% trong giai
đoạn 1990-1995 cho mẫu các đợt IPO ở Thổ Nhĩ Kì.
Theo đó, một vấn đề được đặt ra là, như vậy liệu ở Việt Nam có xảy ra hiện tượng
định giá thấp trong IPO, nếu có những nhân tố nào sẽ tác động đến mức độ định
dưới giá IPO và các nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá thấp trong IPO ở thị
trường chứng khoán Việt Nam có giống như trên các thị trường khác hay không?
Như vậy, việc xác định mức độ định giá thấp cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến
việc định giá thấp là cần thiết để đưa ra các chiến lược IPO cũng như đầu tư vào các
cổ phiếu IPO hiệu quả hơn. Do Sàn Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) là
một trong những sàn giao dịch lớn và sôi động nhất trong thị trường chứng khoán
Việt Nam. Vì vậy, tui tiến hành xem xét các vấn đề được nêu trên tại sàn giao dịch
này. Đó là lý do mà tui chọn đề tài: “Các nhân tố tác động đến mức độ định dưới giá
IPO trong ngắn hạn – Nghiên cứu thực nghiệm tại HOSE”.
 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứ xem xét thực nghiệm về mức độ định giá thấp IPO ở Việt Nam, cụ
thể là tại Sàn Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng tới việc định giá thấp trong ngắn hạn ở thị trường này.
 Phương pháp nghiên cứu
Đầu tiên, thông qua các nghiên cứu định tính, xác định ảnh hưởng của các nhân tố
lên mức độ định giá thấp trong IPO. Sau khi thu thập dữ liệu từ website Sở giao
dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, Ủy ban chứng khoán Việt Nam, và các website
tài chính khác, tui tiến hành xử lý dữ liệu trên excel để thu thập các biến cần thiết
cho mô hình. Tiếp đó, sử dụng phương pháp định lượng, tui dùng mô hình hồi quy
đa biến bằng phương pháp bình phương bé nhất OLS để xác định mức độ tác động
2. TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT
2.1 Khái quát về IPO và sự định dưới giá IPO
2.1.1 Các vấn đề cơ bản về IPO
Phát hành lần đầu ra công chúng, còn gọi là IPO (viết tắt theo tiếng Anh: Initial
Public Offering) là việc chào bán chứng khoán lần đầu tiên ra công chúng. Sau khi
phát hành lần đầu ra công chúng, một công ty cổ phần sẽ trở thành công ty đại
chúng (hay công ty cổ phần đại chúng). Trong định nghĩa về IPO chúng ta cần lưu ý
một số điểm sau:
• Thứ nhất, khái niệm về phát hành cổ phiếu lần đầu là việc một công ty lần
đầu tiên thực hiện đợt phát hành cổ phiếu của mình ra công chúng.
• Thứ hai, khái niệm IPO dễ bị lẫn lộn với một khái niệm khác là phát hành sơ
cấp. Phát hành sơ cấp chưa chắc đã là IPO. Điểm khác nhau quan trọng giữa IPO và
phát hành sơ cấp ở chỗ phát hành sơ cấp là việc phát hành chứng khoán mới, còn
IPO phải là lần phát hành chứng khoán mới ra công chúng đầu tiên. Từ đó, có thể
thấy một công ty có thể có nhiều lần phát hành sơ cấp nhưng chỉ có duy nhất một
lần phát hành IPO. Mục đích của việc phân biệt hai hình thức phát hành như trên là
nhằm có các biện pháp bảo vệ cho công chúng đầu tư, nhất là những nhà đầu tư nhỏ
không hiểu biết nhiều về lĩnh vực chứng khoán. Nhằm mục đích này, để được phép
phát hành ra công chúng, tổ chức phát hành phải là những công ty làm ăn có chất
lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đáp ứng được các điều kiện
do cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán (Uỷ ban chứng khoán nhà nước) qui
định.
• Thứ ba, đó là tiếp theo lần phát hành IPO, những lần phát hành tiếp thêm các
cổ phiếu ra công chúng của công ty được gọi là phát hành bổ sung (SOEs –
seasoned equity offering).
• Thứ tư, một phần của IPO có thể là cung ứng lần đầu (công ty phát hành cổ
phần để huy động vốn mới), hay là cung ứng lần thứ hai, đó là việc các cổ đông
Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement