Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Daryl
#864220 Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết Nối

I. Tính cấp thiết của đề án thực tập
Ngành công nghiệp thép là ngành vô cùng quan trọng đối với các nước
đang phát triển như Việt Nam . Đặc biệt với những diễn biến của tình hình
thế giới ngày nay phát triển một cách khoa học ngành công nghiệp thép đóng
vai trò vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và việc
bình ổn giá cả của việt nam .
( thiếu lịch sử và vai trò )
Các nước ở giai đoạn tiền công nghiệp hóa và có những điều kiện phát
triển nhất định về ngành thép thường chọn ngành thép làm một trong những
ngành chủ chốt của nền kinh tế đóng vai trò lớn về tích lũy
y vốn và phục vụ xuất khẩu trong đó có thể kể đến như Ý, Mỹ, Trung Quốc,
Hàn Quốc, Braxin…
Ở Việt Nam chúng ta ngành công thép kể từ khi ra đời và trong quá trình
phát triển của nó đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Đặc biệt những tiến bộ rất nhanh
của ngành công nghiệp thép từ năm 1995 trở lại đây, đã thể hiện rất rõ vai

trò to lớn của ngành công nghiệp thép. Từ chỗ các sản phẩm của ngành công
nghiệp thép còn thô sơ chất lượng sản phẩm còn kém, thì nay sản phẩm đã
ngày càng đa dạng mẫu mã, chủng loại. Chất lượng của các sản phẩm ngành
công nghiệp ngày càng nâng cao, lượng vốn đầu tư cả trong và ngoài nước
ngày càng tăng và công nghệ ngày càng cải thiện, không những đáp ứng
được một số nhu cầu thép lớn của đất nước mà còn xuất khẩu.
Với xu hướng tự do hóa, toàn cầu hóa, xu thế chuyển giao công nghệ…
lợi thế so sánh ngày càng thể hiện rõ hơn những ưu việt nổi trội của từng
quốc gia.Mặt khác đặc điểm của ngành thép phụ thuộc nhiều vào nguồn
nguyên liệu cộng với chi phí vận chuyển khá rẻ phụ thuộc nhiều vào kết cấu
hạ tầng. Nên phát triển ngành thép là một nhu cầu tất yếu đặt ra trong nhu
cầu phát triển của đất nước, đặc biệt là giai đoạn tới khi đất nước ta bước
vào giai đoạn công nghiệp hóa với nhu cầu xây dựng cao. Vì vậy với tư cách
là một ngành xương sống của đất nước ngành công nghiệp thép đã đóng góp
một vai trò vô cùng to lớn cho nền kinh tế nước ta. Trong những năm gần
đây ngành công nghiệp thép nước ta đã có những sự tăng trưởng đáng kể.
Tuy nhiên chúng ta có thể nhận thấy ngành công nghiệp thép đã bộc lộ
những khiếm khuyết, hạn chế lớn trong quá trình phát triển. Chính sự bất ổn
về giá, nghịch lý cung cầu so với giá cả, sự phát triển không khoa học, gây
hại đến môi trường, sự lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu nước ngoài … đã làm
hạn chế đi rất nhiều những ưu điểm của nó, gây thua thiệt về cạnh tranh
ngay cả trên sân nhà và thậm trí còn gây hại đến nền kinh tế xã hội. với nhu
cầu ngày càng quan trọng của ngành thép trong tình hình đất nước hiện nay
chúng ta cần có những chiến lược nhất định
II. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những chiến lược, giải pháp để phát triển một cách khoa học,
bền vững ngành thép xứng đáng với tiềm lực của một ngành xương sống của
nước nhà. Cụ thể :
- Xác định vị trí, vai trò của ngành công nghiệp thép trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội.
- Đề xuất các chiến lược và giải pháp cho ngành công nghiệp thép đến
năm 2015 và định hướng cho ngành thép đến năm 2020.
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề án là ngành công nghiệp thép việt nam.,
trong giai đoạn mới (từ năm 2000 trở đi)
2. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn trong hoạt động của ngành công nghiệp thép Việt Nam trong
điều kiện nền kinh tế mở và chịu sự ảnh hưởng mạnh mẹ của quá trình
thương mại hóa và chuyển giao công nghệ.


IV. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp
phân tích hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh tổng hợp.
V. Đóng góp của đề án
-Làm rõ đặc điểm, vai trò của ngành công nghiệp thép. Kinh nghiệm xây
dựng chiến lược phát triển ngành công nghiệp điện tử ở một số các nước
khác trên thế giới.
VI. Kết cấu của đề án
Chương 1 : Sự cần thiết để phát triển ngành thép ở Việt Nam
Chương II : Thực trạng phát triển ngành công nghiệp thép ở việt nam
Chương III : Định hướng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp thép
trong giai đoạn 2010 – 2020

Chương I : Cơ sở lý luận về ngành thép ở
việt nam
I. khái niệm và đặc điểm của ngành công nghiệp thép
1.Khái niệm và đặc điểm
1.1 Một số khái niệm ngành công nghiệp thép
Ngành công nghiệp thép là ngành công nghiệp sản xuất và tiêu thụ các
loại sản phẩm và bán thành phẩm thép. Trong đó bán thành phẩm thép bao
gồm có Ferror, gang, phôi; thành phẩm thép gồm một số nhóm loại chinh
như : Sản phẩm gia công kim khí, sản phẩm thép sau cán, sản phẩm tôn, thép
cây cuộn xây dựng, thép hình thép ống; thép tấm lá
1.2 Đặc điểm ngành công nghiệp thép.
Ngành công nghiệp thép ra đời khá sớm. Nhưng từ ngay sau khi ra đời nó
đã khẳng định được vai trò tiên phong của mình, là ngành chủ chốt, vô cùng
quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa của loài người. Hiện nay nó vẫn
không hề đánh mất vị thế quan trọng của mình, mà nó luôn khẳng định mình
là một ngành xương sống của nền kinh tế. Chúng ta có thể nhận thấy một số
đặc điểm của ngành công nghiệp thép như sau :
a. Đặc điểm về vốn và công nghệ
- Công nghệ và vốn của ngành công nghiệp thép có liên quan chặt chẽ với
nhau. Nhành công nghiệp thép có rất nhiều dây chuyền công nghệ khác nhau
tương xứng với nó là các khoản vốn cho từng công nghệ cũng chênh lệch
nhau rất lớn. Đây chính là nguyên nhân cơ bản nhất cho sự khác nhau về
công nghệ của các nước phát triển so với các nước đang phát triển. Ở việt
nam ta hiện nay hay một số nước đang phát triển như ấn độ, trung quốc cách
đây khoảng 5 năm trở về trước … công nghệ mà ta thường sử dụng chính là
lò luyện thép với dung tích từ 200m3 đến 500m3 với những lò luyện kiểu
như thế này chi phí vốn nhỏ hơn rất nhiều so với những lò luyện thép của
các nước phát triển như ý, hàn quốc. Và với công nghệ này thì xuất hiện
nhiều doanh nghiệp sản xuất với quy mô nhỏ lẻ, không đáp ứng được dây
chuyền công nghệ liên hoàn. Nên sức cạnh của các công ty của các nước có
công nghệ thấp thì còn kém, môi trường thì bị hủy hại.
- Trong quá trình sản xuất công nghệ đóng vai trò rất lớn để tăng khả
năng cạnh tranh, những công nghệ lò cao có dung tích thấp thường để lại tác
hại môi trường rất xấu. Vì vậy khi thương mại hóa toàn cầu sự “làm ngơ”
cho các doanh nghiệp của các nước đang phát triển không còn. Thì sự ảnh
hưởng của công nghệ đến yếu tố cạnh tranh là rất lớn. Vì vậy chúng ta thấy
các nhà sản xuất có năng lực thực sự trên thị trường thế giới là các doanh
nghiệp có tiềm lực lớn về vốn. Và tương lai vị thế của họ còn lớn mạnh hơn
trước gấp nhiều lần.
b. Đặc điểm về sản phẩm
- Nhìn chung các sản phẩm ngành thép khá đa dạng nhưng chúng ta có
thể chia làm thép thành phẩm và thép bán thành phẩm. Trong đó thép thành
phẩm là sản phẩm tiêu thụ chính.
- Các sản phẩm thép đại đa là các sản phẩm trung gian cho các ngành
công nghiệp, dịch vụ khác. Vì vậy sản phẩm của ngành về kiểu dáng, mẫu
mã phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm ngành tiêu thụ nó.
- Các sản phẩm ngành thép thường có khối lượng lớn nhưng thể tích lại
khá gọn. Lên ngành thép thích hợp vận chuyển đường bộ, đường sắt…

c. Đặc điểm về thị trường
-Ngành công nghiệp thép là ngành có lợi thế theo quy mô. Lên thị
trường chủ yếu của các sản phẩm thép là các tập đoàn thép lớn, đa quốc gia
như vitasteel , Tycool Worldwide Steel, Mittal Steel của Ấn Độ… còn các
doanh nghiệp công ty sản xuất nhỏ lẻ chỉ tập trung tại các nước đang phát
triển do tiêu chuẩn môi trường chưa được tốt thì thị trường của các công ty
này thường chỉ bó hẹp trong quốc gia với những sự bảo hộ nhất định.
-Thị trường của ngành thép phụ thuộc theo mùa (các tháng cuối năm)
nhu cầu thép sẽ đột ngột tăng trong giai đoạn này. Có thể nói đó là một phần
do nhu cầu xây xựng tăng cao => nhu cầu về các sản phẩm của ngành công
nghiệp thép cũng gia tăng.
2. phân loại theo sản phẩm của ngành công nghiệp thép
-Sản phẩm của ngành công nghiệp nghiệp thép rất đa dạng gồm có thép
thành phẩm, thép bán thành phẩm, thép phế liệu và các loại sỉ.
2.1.Thép bán thành phẩm
- Thép bán thành phẩm gồm ba loại chính là Ferror, gang và phôi.
Sản phẩm Ferro

Chú giải
FeSi 75 là ký hiệu của một loại Ferro
Si(%) là nồng độ chất Si có trong hỗn hợp Ferro tương ứng
Sản phẩm gang



Chú giải : GD0, GD1…GD4 lần lượt là ký hiệu của các loai gang đúc từ 0 đến 4
C, Si lần lượt là các % các chất có trong hỗn hợp từng loại gang.
Ngoài các thành phần trên còn lại là % của sắt


Sản phẩm thép phôi

2.2. Thép thành phẩm
- thành phẩm của thép rất đa dạng và được chia làm nhiều nhóm sản
phẩm khác nhau tùy vào nhiều tiêu thức nhưng nhìn chung nếu phân chia
theo đặc điểm của thép thì các sản phẩm của ngành thép được phân chia
thành các nhóm sản phẩm chính như sau: sản phẩm gia công kim khí, sản
phẩm sau cán, sản phẩm tôn, thép cuộn xây dựng, thép hình thép ống, thép
tôn lá.
+ Sản phẩm gia công kim khí
- Sản phẩm gia công kim khí là loạt sản phẩm phục vụ cho ngành kim khí
nói chung nó bao gồm : trục cán trơn, bánh răng hộp giảm sóc, hộp giảm
tốc, dao cắt các loại…

Trục cán vòng bi

Trục cán trơn

Bánh răng hộp giảm tốc

+ Sản phẩm sau cán

- Sản phẩm sau cán gồm các loại sản phẩm như : Đinh, ốc vít, lưới rào, dây
thép mã kẽm….





Đinh Ốc Vít

Đinh thép

Sản phẩm lưới rào


Dây thép mạ kẽm


+ Sản phẩm tôn
-Sản phẩm tôn gồm các loại sản phẩm chủ yếu như : Tôn dập sóng,
Tôn mã kẽm, tôn mạ mầu…








Tôn dập sóng

Tôn mạ kẽm


Tôn mạ màu


+ Thép cuộn thép xây dựng

Bao gồm : Thép cuộn tròn trơ, thép cây vằn, thép cuộn.
Thép cây tròn trơn

Thép thanh vằn


Thép cuộn

+ Thép hình thép ống
Lọi thép này bao gồm : thép hình chữ C, thép hình chữ I, thép góc, thép ống.



Thép chữ C

Thép chữ I

Thép góc

Thép ống
+ Thép tấm lá



Thép tấm lá

Thép phế liệu là các sản phẩm đã qua sử dụng hay bị hỏng trong quá
trình sản xuất mà không còn khả năng sử dụng được thu thập để tái chế lại
hay tiêu hủy.
Các loại sỉ là các loại mạt thép, các phần thép bị dư thừa, đào thải
trong quá trình tạo ra sản phẩm thép.

II. vị trí và vai trò của ngành công nghiệp thép trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1. vị trí của ngành công nghiệp thép
-Ngành công nghiệp thép là ngành công nghiệp vô cùng quan trọng của
Việt Nam , và đóng vai trò giống như xương sống của của quốc gia.
-Từ ngay sau khi ra đời ngành công nghiệp thép đã khẳng định được vai
trò lớn lao của mình. Ngành công nghiệp thép là cầu nối trung gian cho các
ngành công nghiệp khác như xây dựng, cơ khí, điện tử, sản xuất ô tô xe
máy…Và tạo tiền đề thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển. Đặc
biệt với sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật, sự phát triển không
ngừng của đời sống kinh tế xã hội, sự đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa… với vai trò trụ cột của mình trong phát triển kết cấu hạ tầng ngành
công nghiệp thép luôn đi trước một bước tạo tiền đề, điều kiện cho các
ngành công nghiệp, dịch vụ khác phát triển. Cải thiện được đời sống của
nhân dân, giúp giảm chi phí sản, tăng mức cạnh tranh, tăng sự hấp dẫn của
vùng ….
Theo đánh giá trung trên thế giới thì ngành công nghiệp thép là 1 trong
10 ngành có tỷ lệ thu hút vốn và lao động lớn nhất thế giới chỉ đứng sau các
ngành công nghiệp điện tử, sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy… Và là ngành
có doanh số rất cao.

2. Vai trò của ngành công nghiệp thép
2.1. Ngành công nghiệp thép đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế
- Ngành công nghiệp thép là ngành xương sống của Việt Nam trong quá
trình xây dựng và phát triển đất nước đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Ngành công nghiệp điện tử đóng một vai rất lớn vào sự tăng trưởng cao của
nền kinh tế Việt Nam . Ngành công nghiệp thép không những góp một
lượng thu nhập lớn cho nền kinh tế ước khoảng 1659 tỷ đồng lợi nhuận và
nộp ngân sách nhà nước lên tới 2500 tỷ đồng, và còn là đầu vào vô cùng
quan trọng cho ngành công nghiệp khác đặc biệt là ngành xây dựng.
- Đặc biệt với sự tăng trưởng nhanh của ngành công nghiệp thép (lên tới
25 dến 30% một năm binh quân từ năm 1995 đến nay ) . Vì vậy ngành công
nghiệp thép đã góp phần lớn vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
theo hướng gia tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ và giảm tỷ
trọng của ngành nông nghiệp.
2.2. Công nghiệp thép đóng góp vào việc giải quyết việc, thu nhập và đời sống
- Chính sự phát triển của ngành công nghiệp thép đã tạo cơ sở để thu hút
thêm lao động, giải quyết việc làm. Với sự phát triển nhanh chóng của ngành
công nghiệp thép đã góp phần lớn thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, từ đó
có thể thu hút một lượng lao động đáng kể tăng thểm hàng năm vào ngành
công nghiệp thép và các ngành bổ trợ có liên quan. Và đén một giai đoạn
nhất định nào đó thì nó sẽ góp phần chuyển dịch lao động trong lĩnh vực
nông nghiệp sang lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, lao động
nông thôn sang lao động thành thị. (theo lý thuyết mô hình hai khu vực của
trường phái tân cổ điển). Vì vậy ngành công nghiệp thép không chỉ giải
quyết việc làm mà còn nâng cao năng suất lao động, thu nhập và cải thiện
đời sống của người lao động.” Đặc biệt là có cả nâng cao thu nhập cho lao
động ở các vùng nghèo”.
- Số việc làm tăng theo nhờ phát triển công nghiệp nói trung có thể tính
theo công thức :
Ei = Ni X g(Vi) x Si
Trong đó :
Ei : là số việc là tăng thêm nhờ sự tăng trưởng ngành (i) (% lực lượng lao
động)
Ni : là hệ số thu hút lao động của ngành i
g(Vi) : là tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngành i
Si : tỷ trọng lao động của ngành I so với toàn bộ lực lượng lao động tham
ra hoạt động của nền kinh tế.
Và theo thống kê thì Ei bình quân của ngành thép từ năm 2005 đến hết năm
2008 là 0,188544%
- Ngoài việc thu hút lao động trực tiếp trong ngành công nghiệp thép còn
phải tính đến khả năng tạo việc gián tiếp của ngành công nghiệp thép, chính
sự phát triển của ngành công nghiệp thép sẽ gây hiệu ứng lan tỏa cho các
ngành kinh tế như ngành năng lượng, sản xuất than, ngành xây dựng, ngành
chế tạo ô tô, xe máy… và dần dần với sự tăng trưởng làm gia tăng thu nhập
và gia tăng nhu cầu các sản phẩm nó sẽ thúc đẩy các ngành trong hệ thống
nền kinh tế phát triển theo đặc biệt là ngành liên quan trực tiếp tới ngành
công nghiệp thép như vừa nêu trên.
2.3. Công nghiệp thép đóng góp vào việc nâng cao tích lũy của nền
kinh tế.
Ngành công nghiệp thép với đặc điểm là ngành sử dụng nguyên liệu chính
là các nguồn quặng… nên ngành công nghiệp thép sẽ tận dụng được tài
nguyên quốc gia và từ đó có một tỷ xuất lợi nhuận khá lớn khoảng trên 11%
nguồn vốn chủ sở hữu. Điều này đã góp một phần rất lớn vào tích lũy của
nền kinh tế khoảng 4159 tỷ đồng ( năm 2008). Với tư cách là một ngành trụ
cột của đất nước ngành công nghiệp thép có vai trò vô cùng quan trong trong
giai đoạn phát triển nhanh của đất nước ta hiện nay.
Như vậy, ngành công nghiệp thép luôn là ngành đi trước một bước cho
các ngành công nghiệp khác, cung cấp các sản phẩm cho quá trình xây dựng
và phát triển của các ngành công nghiệp khác, đặc biệt là công nghiệp xây
dựng.
2.4. Công nghiệp thép góp phần ổn định vĩ mô nền kinh tế
- Từ thực tế cho thấy ngành thép có sực ảnh hưởng rất lớn tới chỉ số giá
tiêu dùng CPI. Chính sự tăng giá quá cao của các sản phẩm ngành thép trung
bình từ năm 2000 đến năm 2008 trung bình khoảng từ 20-30% đã góp phần
ảnh hưởng rất lớn đến việc tăng giá của chỉ số tiêu dùng CPI. Nếu chúng ta
chỉ cần để ý tới thời sự hay trên một số báo chí … thì có thể nhận thấy chỉ số
giá tiêu dùng của việt nam ta tăng rất nhanh những năm gần đây (từ 2000
đến đầu 2008) thì ảnh hưởng rất lớn đó là sự ra tăng giá thép. Vì vậy nếu
phát triển đúng đắn, khoa học và hợp lý ngành thép thì nó sẽ góp phần lớn
vào việc giảm phát của nền kinh tế.
- Mặt khác có thể nhận thấy chính sự tăng nhanh về qui mô của ngành
thép đã thu hút một phần lớn lực lượng lao động của nền kinh tế từ đó nó
góp phàn lớn vào giảm tỷ lệ thất nghiệp của việt nam.
III. sự cần thiết phát triển ngành công nghiệp thép ở
việt nam
Ngành công nghiệp thép là một trong những ngành quan trọng bậc nhất
của mỗi quốc gia với vai trò vô cùng quan trọng của ngành chúng ta cần
có những chiến lược và giải pháp nhất định và dài hạn, nhằm hạn chế những
thiếu xót của ngành công nghiệp thép, và phát huy được phát triển nhất thế mạnh
và tốc độ tăng trưởng của ngành.
Với sự phát triển ngành càng nhanh của kinh tế xã hội nhu cầu các sản
phẩm ngành thép ngày càng nhiều vì vậy việc cân đối cung cầu cần được
đặt ra. Nếu để ngành công nghiệp thép phát triển tự nhiên, thì với sự phát
triển khá nóng của ngành công nghiệp thép tình trạng mất cân đối cung cầu
sẽ rất dễ xảy ra, và có thể gây hậu quả lớn về kinh tế xã hội.
Chúng ta có thể nhận thấy tác hại môi trường của ngành công nghiệp thép
là vô cùng to lớn. Đặc biệt là các công nghệ lò cao co dung tích từ 200m3
đến 500m3 để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho môi trường. Nhất là các
nước đang phát triển như việt nam chúng ta thì công nghệ mà chúng ta
thường có dung tích lò cao như trên. Nếu không có những giải pháp kịp thời
thì hậu quả là rất nghiêm trọng. Có thể nhận thấy trung quốc là một tấm
gương tốt để chúng ta học hỏi.
Đặc điểm của ngành công nghiệp thép là tỷ lệ thuận về quy mô với lợi
nhuận. Quy mô càng lớn thì tỷ Suất lợi nhuận càng cao, nhưng có thể nhận
thấy các doanh nghiệp của việt nam nói riêng và các nước còn kém phát
triển nói chung thì sản xuất rất tự phát và nhỏ lẻ công nghệ thấp. Sở dĩ họ
tồn tại được là do họ gần nguồn thị trường trong nước, sản phẩm giá rẻ, và
đặc biệt là họ không phải trả một khoảng lớn chi phí tác hại môi trường do
họ gây ra. Vì vậy để phát triển được bền vững thì nhất thiết cần có
những giả pháp về tiêu chuẩn và quy hoạch cho ngành công nghiệp thép .
Ngành công nghiệp thép là ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều vốn vì vậy tất
yếu để phát triển được nhanh và mạnh tạo được lợi thế cạnh tranh, lợi thế về
quy mô thì nhất thiết chúng ta cần huy động vốn. Vậy câu hỏi đặt ra là
chúng ta huy động vốn như thế nào, bằng cách nào… và đề xuất giải pháp
nào để thu hút vốn?
Hậu quả môi trường của ngành công nghiệp thép do công nghệ thấp để lại
là rất lớn, vì vậy chúng ta cần có những giải pháp như thế nào để ngăn ngừa
tác hại dài hạn như thế này. Vì vậy những giải pháp về tiêu chuẩn khí, nước,
rác thải… cần có để sao cho phù hợp nhất. Vì ở đây có sự đánh đổi giữa
cạnh tranh phát triển với đảm bảo môi trường. Nên phải có sự cân nhắc kỹ
lưỡng sự đánh đổi giữa tăng trưởng và môi trường trong từng giai đoạn phát
triển của nền kinh tế.
Ở Việt Nam có tới gần 50 % lượng phôi thép phải nhập khẩu, và cũng
khoảng 45 % sản lượng thành phẩm thép phải nhập khẩu lên chúng ta
thường thiếu chủ động về giá và phụ thuộc rất nhiều vào thị trường bên
ngoài đặc biệt là thị trường Trung Quốc. Vì vậy nó sẽ làm giảm năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp thép của Việt Nam và gây ảnh hưởng đến
chỉ số vĩ mô của nền kinh tế
IV. Kinh nghiệm phát triển ngành thép của các nước
trên thế giới.
Nhìn chung kinh nghiệm của các nước phát triển, các nước đang phát
triển về phát triển ngành thép và vị trí, vai trò của ngành thép
1. Kinh nghiêm của trung quốc
Chúng ta cần rất chú ý đến tình trạng đầu tư giàn trải, công nghệ
thấp. Như ở trung quốc chúng ta thấy được lúc đầu ngành thép của trung
quốc rất phát triển, tốc độ tăng trưởng cao, nhanh, tỷ suất lợi nhuận lớn,
nhưng hậu quả nó để lại là vô cùng to lớn có thể nói nó đã xóa đi những
thành tựu to lớn ngành thép đã mang lại cho trung quốc trước đó. Môi
trường xung quanh các công ty, nhà máy, xí nghiệp sản xuất thép bị hủy
hoại trầm trọng, nào là ô nhiễm đất, nước và không khí. sức khỏe công nhân
và dân cư xung quanh bị giảm sút rõ rệt,và thường mắc một số bệnh nhất là
các bệnh về hô hấp hay nhiễm sắt. Sở dĩ hậu quả ngành thép để lại lớn như
vậy là do công nghệ sản xuất thép của trung quốc khá lạc hậu họ sản xuất
thép thường chỉ dùng công nghệ lò cao từ 200m3 đến 500m3, và chưa xử lý
được chất thải, nước thải và khí thải. Hơn thế nữa chính phủ Trung Quốc
còn để tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, dàn trải, thiếu quy hoạch chính những
điều đó đã làm cho công nghệ của trung quốc lúc đầu lạc hậu. Thấy được
những biểu hiện bất cập và gây hậu quả trên chính phủ trung quốc đã có
những quyết định sửa đổi, cụ thể :
- Trung Quốc đã có những quy hoạch rõ rành cho ngành công nghiệp thép
của họ
- Ban hành những tiêu chuẩn để xây dựng các lò cao sản xuất thép.
- Cấm các lò cao có dung tích dưới 350m3 hoạt động
- Có những quy định về chất thải một cách nghiêm túc.
Việt Nam cần nghiêm túc nhìn nhận bài học kinh nghiệm này của
trung quốc. Thực sự chúng ta đang mắc phải những sai lầm tương tự như của
trung quốc
2. kinh nghiệm của Hàn Quốc và Ý
Từ việc phát triển ngành thép của hàn quốc và ý một trong những nước
có ngành công nghiệp thép vô cùng phát triển nhìn chung ngành công nghiệp
thép của Hàn Quốc và Ý có sự quy hoạch khá tốt về sản xuất thép. Đặc biệt
sản xuất thép của họ là sản xuất tập trung, không nhỏ lẻ vì vậy nó có thể áp
dụng công nghệ sản xuất liên hoàn năng xuất lao động cao. Đặc biệt các tiêu
chuẩn kỹ thuật mà công nghệ họ áp dụng có chỉ tiêu về môi trường khá tốt.
hơn thế nữa sản phẩm của họ có chất lượng tốt hơn hản các sản phẩm công
nghệ thấp với lò cao dưới 500m3. Cho nên năng lực cạnh tranh của họ tốt
hơn hẳn các hãng sản xuất khác. Nhưng có điều để có công nghệ hiện đại đó
thì tất yếu phải bỏ một khoảng chi phí ban đầu rất lớn khoảng 250 triệu USD
cho một lò luyện thép công xuất 200 nghìn tấn thép một năm. Câu hỏi đặt ra
là liệu có doanh nghiệp nào của việt nam có thể đạt dược số vốn lớn như vậy
không? . ., trình độ lao động, cơ sở hạ tầng của chúng ta có đáp ứng được
đòi hỏi của công nghệ đó hay không, và đặc biệt là tỷ Suất lợi nhuận của
ngành đó với công nghệ này liệu có nhiều doanh nghiệp mạo hiểm đầu tư
vào việt nam hay không?
3. kinh nghiệm của ấn độ và một số các quốc gia khác.
Ấn Độ và một số các nước khác như Đức, Mỹ… họ luôn dành một quỹ
dự phòng nhất định cho ngành thép để đề phòng tình trạng ứ đọng, trầm
xuống của thị trường, hay khi xoay vòng vốn.
Các quốc gia này còn có sự can thiệp và hỗ trợ khá nhiều trong công tác huy
động vốn, ưu đãi bởi tính lợi thế về quy mô của nó.
4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ những kinh nghiệm của các nước trên
thế giới:
a. Sớm có những tiêu chuẩn rõ ràng về lượng chất thải, khí thải, nước
thải.
b. Phải có sự quy hoạch rõ ràng về phát triển các doanh nghiệp thép.
Khuyến khích liên kết, đổi mới công nghệ nhằm tạo được sự liên kết cần
thiết để phát triển đồng bộ, nâng cao sức cạnh tranh.
c. Dần thay thế các nhà máy có dung tích nhỏ hơn 500 m3 tránh để lâu
ảnh hưởng tới môi trường.
d. Có sự hỗ trợ, can thiệp của chính phủ một cách hợp lý vào công tác
thị trường.
e. Tạo những kênh huy động vốn, dự phòng vốn

Chương II : Thực trạng phát triển ngành
công nghiệp thép ở việt nam
I. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của ngành công
nghiệp thép
Ngành công nghiệp thép là ngành đã có từ rất lâu đời và nó được phát
huy mạnh mẽ nhất vai trò của mình là từ cuộc cách mạng công nghiệp, với
vai trò to lớn tạo nguồn tích lũy cho nền kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng…
Ngành công nghiệp thép đã khẳng định được vai trò là ngành dẫn đường cho
các ngành công nghiệp khác phát triển. Chúng ta có thể nhận thấy Anh Pháp,
Ý… là các nước có cuộc cách mạng công nghiệp sớm nhất thế giới trong
giai đoạn đó ngành luyện kim, sản xuất thép ở các nước này và các nước
phát triển lúc đó đã rất phát triển đáp ứng được nhu cầu lớn lao cho nền kinh
tế của các nước này. Và ngày nay các nước đang trong giai đoạn công
nghiệp hóa như Trung quốc, Ấn Độ hay các nước có điều kiện phát triển
ngành công nghiệp thép như Ý, Hàn Quốc đã rất dặc biệt quan tâm và đẩy
mạnh ngành công nghiệp thép phát triển. Còn Việt Nam chúng ta đang trong
giai đoạn phát triển mạnh mẽ thì ngành công nghiệp thép của chúng ta phát
triển như thế nào?
Ngành thép Việt Nam được xây dựng từ đầu những năm 60 của thế kỷ 20.
Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên (Trung Quốc giúp) cho ra lò mẻ gang
đầu tiên vào năm 1963. Song do chiến tranh và khó khăn nhiều mặt, 15 năm
sau, Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên mới có sản phẩm thép cán. Năm
1975, Nhà máy luyện cán thép Gia Sàng do Đức (trước đây) giúp đã đi vào
sản xuất. Công suất thiết kế của cả Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên lên
đến 10 vạn tấn/năm (T/n).
Năm 1976, Công ty luyện kim đen miền Nam được thành lập trên cơ sở
tiếp quản các nhà máy luyện, cán thép mini của chế độ cũ để lại ở thành phố
Hồ Chí Minh và Biên Hòa, với tổng công suất khoảng 80000 tấn thép
cán/năm.
Từ 1976 đến 1989, ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đất
nước lâm vào khủng hoảng. Mặt khác, nguồn thép nhập khẩu từ Liên Xô
(trước đây) và các nước XHCNvẫn còn dồi dào, vì vậy ngành thép không
phát triển được và chỉ duy trì mức sản lượng 40000 - 85000 T/n. Từ năm
1989 đến 1995, thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa của Đảng bvà Nhà
nước, ngành thép bắt đầu có tăng trưởng, sản lượng thép trong nước đã vượt
ngưỡng
100 000 T/n
Năm 1990 Tổng công ty thép Việt Nam (thuộc Bộ công nghiệp nặng -
nay là Bộ công nghiệp) được thành lập, thống nhất quản lý ngành sản xuất
thép quốc doanh trong cả nước. Đây là thời kỳ phát triển sôi động, nhiều dự
án đầu tư chiều sâu và liên doanh với nước ngoài được thực hiện. Các ngành
cơ khí, xây dựng, quốc phòng và các thành phần kinh tế khác đua nhau làm
thép mini. Sản lượng thép cán năm 1995 đã tăng gấp 4 lần so với năm 1990,
đạt 450000 T/n và bằng mức Liên Xô cung cấp cho nước ta hàng năm trước
1990.
Tháng 4 năm 1995, Tổng công ty thép Việt Nam được thành lập theo mô
hình Tổng công ty Nhà nước (Tổng công ty 91) trên cơ sở hợp nhất Tổng
công ty thép Việt Nam và Tổng công ty kim khí thuộc Bộ thương mại.
Thời kỳ 1996-2000, ngành thép vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá
cao, tiếp tục được đầu tư mới và đầu tư chiều sâu; đã xây dựng và đưa vào
hoạt động 13 dự án liên doanh, trong đó có 12 nhà máy liên doanh cán thép
và gia công chế biến sau cán. Sản lượng thép cán cả nước năm 2000 đã đạt
1,57 triệu tấn, gấp hơn 3 lần năm 1995 và gấp gần 14 lần năm 1990. Đây là
thời kỳ có tốc độ tăng sản lượng mạnh nhất. Hiện nay, lực lượng tham gia
sản xuất và gia công chế biến thép trong nước rất đa dạng, bao gồm nhiều
thành phấn kinh tế, ngoài Tổng công ty thép Việt Nam và các cơ sở quốc
doanh thuộc các ngành, địa phương khác còn có các liên doanh, các công ty
cổ phần, công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty tư nhân. Tính tới năm
2001, nước ta có khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng (chỉ tính
doanh nghiệp công suất >5000 T/n) trong đó có 12 dây chuyền cán có công
suất từ 100000 đến 300000 T/n.
Đến nay, sau 10 năm đổi mới và tăng trưởng, ngành thép Việt Nam đã có
công suất luyện thép lò điện 500000 T/n, công suất cán thép kể cả các đơn vị
ngoài Tổng công ty thép Việt Nam tới 2,6 triệu tấn/năm và gia công sau cán
trên 500000 T/n.
Tổng công ty thép Việt Nam đã có công suất luyện thép 470000 T/n và
cán thép 760000 T/n, đang giữ vai trò quan trọng trong ngành thép Việt Nam
.
Trong thời gian từ 1990 đến1999 riêng Tổng công ty thép đã đầu tư
chiều sâu trên 650 tỷ đồng để cải tạo, nâng cấp đổi mới thiết bị các cơ sở
hiện có và góp vốn pháp định trị giá 30 triệu USD để đầu tư liên doanh với
nước ngoài 14 dự án (trong đó có 12 nhà máy cán thép gia công sau cán với
tổng vốn đầu tư 233 triệu USD).
Những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng cao và ổn định của nền
kinh tế, ngành thép cũng tăng trưởng với tốc độ cao. Năm 2000, sản lượng
phôi thép là 305.000 tấn và sản lượng thép cán là 524.000 tấn, thì tới năm
2007 sản lượng phôi có thể đạt 1.800.000 tấn và sản lượng thép thành phẩm
có thể đạt 4.300.000 triệu tấn.
Trước năm 2000, cả nước chỉ có 1 Tổng công ty thép Việt Nam là Tổng
công ty Nhà nước, các Công ty trực thuộc là Công ty Gang thép Thái
Nguyên, Công ty thép Miền Nam và 2 Nhà máy nhỏ ở Đà Nẵng với 5 Công
ty Liên doanh giữa Tổng công ty thép Việt Nam và nước ngoài, thì tới nay
đã có trên 50 Công ty tham gia sản xuất thép gồm đủ các thành phần kinh tế:
Nhà nước, tư nhân, cổ phần, liên doanh với nước ngoài hay 100% vốn đầu
tư của nước ngoài. Tổng công suất sản xuất phôi cả nước đã đạt trên 1,8
triệu tấn/năm và công suất cán đạt trên 6 triệu tấn/năm.
Trước tình hình phát triển cao của ngành sản xuất thép trong nước,
ngày 6/8/2001, Bộ Nội vụ đã ra quyết định cho phép thành lập Hiệp hội thép
Việt Nam . Ngày 21/12/2001, tiến hành Đại hội lần thứ I để thông qua Điều
lệ Hiệp hội, bầu ra Hội đồng Hiệp hội gồm 21 thành viên thay mặt cho 21
Công ty sản xuất thép xây dựng và Ban lãnh đạo thường trực của Hiệp hội.
Vào thời điểm hiện tại, tổng số Doanh nghiệp thành viên Hiệp hội thép
Việt Nam là 62, tập trung vào 3 chuyên ngành chính như: thép xây dựng
(26), ống thép (16), thép tấm lá cán nguội, mạ kim loại, sơn phủ mầu (11) và
11 Doanh nghiệp, văn phòng thay mặt kinh doanh thép.
Hiện nay, các thành viên Hiệp hội thép Việt Nam đã có năng lực sản
xuất trên 80% sản phẩm dài, trên 50% sản phẩm ống, trên 70% sản phẩm dẹt
của cả nước.
Vào thời điểm hiện tại năm tính đến cuối năm 2008 thì tổng giá trị sản
xuất công nghiệp của hệ thống tổng công ty thép việt nam đạt 10567 tỷ đồng
giảm 1.5% so với năm 2007( tính theo giá cố định năm 1994). Và tong
doanh thu của hệ thống tổng công ty thép là 55367 tỷ đồng tăng 55.8% so
với năm 2007
II. Khái quát chung về thực trạng ngành thép trong giai đoạn hiện nay.

Hiện nay trên thế giới tình hình kinh tế có nhiều biến động phức tạp.
những tháng đầu năm 2008 giá dầu thô và nhiều loại vật tư, lương thực đột
biến tăng cao. Sự suy yếu của thị trường tài chính, đồng đôla mỹ mất giá,
kinh tế Mỹ giảm sút đã ảnh hưởng lan rộng tới các nền kinh tế khác trên thế
giới. Trong những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 cuộc khủng hoảng
tài chính kinh tế thế giới ngày càng lan rộng, diễn biến phức tạp, chưa có
dấu hiệu ổn định. Mức độ trầm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu và chiều hướng suy thoái kinh tế thế giới đã tác động nhiều mặt đặc biệt
là về xuất khẩu, đầu tư trực tiếp và gián tiếp… Cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu đã gây xáo trộn lớn tới đời sống kinh tế xã hội các nước, nhất là các
nước kém phát triển phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu.
Trong nước tình hình kinh tế còn có nhiều khó khăn thách thức. Ảnh
hưởng của lạm phát kéo dài đối với các doanh nghiệp, đời sống người lao
động còn nhiều khó khăn. Khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới đang có
tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam nhất là trong những tháng quí I
năm 2009. chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này qua việc suy giảm tốc độ
tăng trưởng kinh tế, suy giảm tốc độ sản xuất công nghiệp, suy giảm tốc độ
tằng trưởng xuất khẩu kể từ tháng 9 năm 2008
Trước đà suy thoái kinh tế chính phủ đã có những chỉ đạo các bộ các
ngành, địa phương đã triển khai thực hiện nghiêm túc 8 nhóm giải pháp
chính phủ đề ra, do đó lạm phát đã được kiềm chế, kinh tế vĩ mô cơ bản
được giữ ổn định, an sinh xã hội được đảm bảo, giữ được tăng trưởng kinh
tế ở mức phù hợp. Và để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong giai đoạn
tới chính phủ đã ra nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11 tháng 12 năm
2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì
tăng trưởng kinh tế đảm bảo an sinh xã hội
III.Thực trạng phát triển ngành công nghiệp thép ở việt
nam
Ngành công nghiệp thép của Việt Nam ta thực sự còn rất là non trẻ,
thiếu sức cạnh tranh, và phụ thuộc nhiều vào thị trường bên ngoài. Tuy
nhiên ngành công nghiệp thép là một trong những ngành phát triển nóng
nhất ở Việt Nam . Với tốc độ tăng trưởng bình quân lên tới trên 20% và một
loạt các dự án đầu tư trong ngành thép sẽ là dấu hiệu khả quan cho ngành
thép.
1. Tình hình chung về ngành công nghiệp thép ở việt nam
1.1 Tình hình về công tác đầu tư phát triển
Vấn đề đầu tư của ngành công nghiệp thép đang trở lên rất nóng với
ngày càng nhiều dự án đăng ký đầu tư với quy mô lớn như :
+ Dự án cải tạo và mở rộng công ty gang thép thái nguyên giai đoạn 2: hoàn
thành thiết kế cơ sở các hạng mục của gói thầu EPC, hoàn thành thiết kế kỹ
thuật các chỉ tiêu hạng mục bãi lệnh và nhập lô thiết bị đầu tiên của gói thầu
EPC số 1. Chỉ đạo đầu tư theo yêu cầu nhà thầu MCC thực hiện theo hợp
đồng đã ký đảm bảo tiến bộ của dự án.
+ Dự án công ty liên doanh khoáng sản và luyện kim việt trung tại
Lào Cai vào ngày 27 tháng 4 năm 2008. Hoàn tất điều chỉnh quy mô dự án
nhà máy thép Lào Cai lên 1 triệu tấn/ năm. Hoàn thành đấu thầu giai đoạn 1
gói thầu EPC nhà máy gang thép Lào Cai 500.000 tấn / năm
+ Dự án khai thác mỏ sắt thạch khê, hoàn thành thẩm định và phê
duyệt báo cáo nghiêm cứu khả thi của dự án. Hoàn thành công tác bàn giao
tài liệu giữa tổng công ty và công ty cổ phần sắt Thạch Khê. Hoàn thành xác
định giá trị góp vốn của tổng công ty.
+Dự án nhà máy thép tấm cán nóng ESSAR-Việt Nam 2 triệu tấn /
năm, Công ty liên doanh đang tiến hành rà soát lại chào thầu gói thầu EPC
và tiếp tục thu xếp vốn cho dự án .
+Dự án nhà máy thép liên hợp, hoàn thành hồ sơ xin cấp giấy chứng
nhạn đầu tư cho dự án. Tổ chức thành công lễ ký kết hợp đồng liên doanh
hợp tác đầu tư dự án nhà máy thép liên hợp Hà Tĩnh. Phối hợp với tư vấn lập
báo cáo đánh giá tác động môi trường cho dự án.
+Dự án mở rộng phân hiệu Hà Tĩnh của trường cao đẳng nghề cơ điện
luyện kim Thái Nguyên. Hoàn thành cơ bản công tác giải phóng mặt bằng,
chủ đầu tư đang triển khai các gói thầu theo kế hoạch. Cơ bản hoàn thành kế
hoạch giải ngân năm 2008.
+ Hoàn tất thủ tục pháp lý và góp vốn thành lập công ty tài chính cổ
phần Xi Măng, công ty cổ phần đầu tư cảng container Quốc Tế - Vũng Tàu,
công ty cổ phần vận tải biển quốc tế Vinalines. Chỉ đạo công ty cổ phần thép
tấm lá thống nhất khẩn trương thu xếp vốn và đẩy nhanh tiến độ thực hiện
hợp đồng đã ký.
+Chỉ đạo công ty cổ phần cán thép thái trung tổ chức đấu thầu gói
thầu EPC của dự án, triển khai công tác chuẩn bị đầu tư dự án sàn giao dịch
điện tử Thép Việt Nam . Dự án đầu tư trung tâm logictics Thép Hà Nội.
Hoàn thành kế hoạch phát triển thép cán dài của tổng công ty . Dự án sản
xuất nhà máy Mn tại Bình Định.
1.2 Năng lực sản xuất
Ngành công nghiệp thép trong quá trình phát triển của mình đã có
những bước tiến vô cùng lớn. Nếu năm 1990 tổng sản lượng thép của Việt
Nam ta vào khoảng 112.000 tán / năm thì năm 1995 đã tăng gấp 4 lần đạt
450.000 tấn / năm và đến năm 2000 đã là 1570.000 tấn / năm cao hơn gấp 3
lần năm 1995 và gấp 14 lần năm 1990. Đến cuối năm 2008 thì sản lượng
thép là 7.653.231 tấn thép/ năm cao gấp gần 4.9 lần năm 2000 và 68 lần năm
1990. trong đó sản lượng phôi thép là 2.400.000 tấn, sản lượng thép xây
dựng là 3.745.000 tấn, ống thép hàn là 511.000 tấn, thép cán nguội là
736.000 tấn, tôn mạ kẽm và sơn phủ màu là 736.000 tấn
1.3 Công nghệ sản xuất
Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đang lần lượt xuất hiện, hứa hẹn đưa
Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, đồng thời cũng có nguy cơ
biến Việt Nam thành nơi tập trung "rác" công nghệ và chất thải gây ô nhiễm
môi trường.
Những dự án giá rẻ là điều Việt Nam cần chú ý tới vì công nghệ quá
lạc hậu của các dự án này. Ở Việt Nam một điều đáng báo động là các dự
công ty sản xuất thép của chúng ta đa số sử dụng công nghệ có dung tích
dưới 1000 m3 thậm chí còn dưới cả 500m3 tồn tại vẫn rất nhiều. Các dự án
giá rẻ này đã gây thiệt hai lớn tới môi trường mà hiệu quả kinh tế lại thấp.
Dẫn chứng như:
Dự án luyện cán thép của tập đoàn Tycoons (Đài Loan) ở Dung Quất,
được cấp giấy phép đầu tư vào cuối năm 2006, có tổng công suất năm triệu
tấn thép thỏi và kinh phí đầu tư 1,03 tỉ đô la Mỹ tính cho cả hai giai đoạn.
Đây là dự án có suất đầu tư khá thấp, chỉ khoảng 200 đô la Mỹ/tấn thép
thành phẩm.
Một nhà máy thép khác, vừa được Công ty Vạn Lợi và Tổng công ty
Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh khởi công xây dựng ở khu kinh tế
Vũng Áng vào trung tuần tháng 6 năm 2007 cũng có suất đầu tư thấp như
thế - 212 đô la Mỹ/tấn.
Trong khi đó, cũng với công suất năm triệu tấn, nhưng hai dự án do tập
đoàn Tata (Ấn Độ) và Posco (Hàn Quốc) dự định đầu tư ở Hà Tĩnh và
Khánh Hòa lại có suất đầu tư cao hơn gấp 4-5 lần. Nguyên nhân tạo nên sự
khác biệt về suất đầu tư chính là ở công nghệ, thiết bị các nhà đầu tư sẽ sử
dụng và đây là điều mà Việt Nam phải lo ngại.
Cả hai dự án của Vạn Lợi và Ty con đều sử dụng công nghệ và dây
chuyền thiết bị đồng bộ của Trung Quốc, trong đó Vạn Lợi sẽ sử dụng loại
lò cao có dung tích 230 mét khối và lò luyện thép 40 tấn/mẻ.
Riêng Tycoons, mặc dù không công bố rộng rãi loại lò cao nào sẽ được
lắp đặt cho dự án của mình, nhưng theo ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch
Hiệp hội Thép Việt Nam, lò cao công ty này sử dụng cho dự án cũng chỉ có

Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

link lỗi đang chờ fix
Hình đại diện của thành viên
By candy151
Hình đại diện của thành viên
By daigai
#1041049 bài này link lỗi rồi bạn tham khảo đoạn trên thôi
Kết nối đề xuất:
Tìm tài liệu
Các dòng xe BMW
Các dòng xe Cadillac
Advertisement