Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By ivybui6767
#749207

Download miễn phí Luận án Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX





Cùng với việc nghiên cứu văn học dân gian, các nhà nghiên cứu trong giai đoạn này
cũng tập trung vào việc nghiên cứu các hiện tượng văn học viết tiêu biểu của thời trung đại
từnghiên cứu tác giả đến tác phẩm văn học. Các công trình Trông giòng sông Vị(1935) của
Trần Thanh Mại; HồXuân Hương - tác phẩm, thân thếvà văn tài(1936) của Nguyễn Văn
Hanh; Nguyễn Du và Truyện Kiều(1942), Văn chương Truyện Kiều(1945), Tâm lý và tư
tưởng Nguyễn Công Trứ(1945) của Nguyễn Bách Khoa; Khảo luận vềKim Vân Kiều(1943)
của Đào Duy Anh lần lượt ra đời



Để DOWNLOAD tài liệu, xin Trả lời bài viết này, mình sẽ up tài liệu cho bạn ngay, hay Admin sẽ upload thay.
Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy ở đây, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:

bình và cảo luận mạnh ở cái nhìn khái quát, tổng hợp những đặc điểm
lịch sử, văn hóa, xã hội để làm nền tảng cho phần cảo luận thì Hoài Thanh ở Thi nhân Việt
Nam lại xuất sắc trong việc lẫy ra phong cách của từng tác giả trong cái nhìn tổng thể của cả
một phong trào Thơ Mới, vừa rất chung lại cũng vừa rất riêng, tạo nên sự thành công cả về
diện (một phong trào thơ) và điểm (phong cách từng tác giả). Hàn Mặc Tử của Trần Thanh
Mại lại tập trung đào sâu vào một phương pháp cụ thể để mổ xẻ sự nghiệp thơ ca của một tác
gia cụ thể, đó là phương pháp tiểu sử học - một dấu nhấn đậm ý nghĩa trong tiến trình tiếp
thu các phương pháp của phương Tây trong nghiên cứu, tìm hiểu văn học nước nhà. Chính
những thành công này đã góp phần tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động nghiên
cứu văn học nửa đầu thế kỷ XX.
2.2.1.2. Những công trình khái quát cả quá trình văn học
2.2.1.2.1. Ngô Tất Tố là một trong những nhà nghiên cứu văn học sử đã giúp độc giả
đương thời có được tài liệu khá phong phú để thưởng thức văn học cổ Việt Nam từ thời đại
Lý, Trần đến cuối thế kỷ XIX qua các tác phẩm: Việt Nam văn học (1942) (gồm hai tập Văn
học đời Lý, Văn học đời Trần) và Thi văn bình chú (1941)
Hai cuốn Văn học đời Lý, Văn học đời Trần là công trình nghiên cứu, giới thiệu về các
tác giả và tác phẩm tiêu biểu của văn học đời Lý (hai mươi ba tác giả với ba mươi tác phẩm)
và văn học đời Trần (bảy tác giả với bốn mươi sáu tác phẩm và bốn tác phẩm vô danh).
Trong Văn học đời Lý, Ngô Tất Tố chưa đề xuất một tiêu chí cụ thể nào để phân loại tác giả
hay tác phẩm. Ở mỗi nhà văn được nói đến, Ngô Tất Tố chỉ giới thiệu một vài nét về tiểu sử
rồi trích dịch tác phẩm, chứ không bàn luận gì. Ông chỉ viết một bài bàn chung ở phần đầu
và kết luận ở phần cuối tác phẩm với ghi nhận một ít sự kiện liên quan về lịch sử và tư
tưởng. Đến Văn học đời Trần, Ngô Tất Tố có tiến bộ hơn khi ở mỗi nhà văn được giới thiệu,
ông có đưa ra nhận xét dù ngắn gọn. Trong “Lời bàn chung” ở đầu sách, ông đã viết một
bảng tổng hợp về văn học đời Trần với nhận định: văn học đời Trần trội hơn văn học đời Lý.
Ngô Tất Tố cũng đã chia các tác phẩm đời Trần ra làm sáu loại: chính trị, lý thuyết, sử
truyện, thơ văn, giáo dục, võ bị.
Thi văn bình chú xuất bản năm 1941 bao gồm hai tập, mục đích chính của sách là giải
thích và đính chính. Quyển I, Ngô Tất Tố giới thiệu 12 nhà thơ gồm: Nguyễn Trãi, Lê Thánh
Tôn, Ngô Chi Lan, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Gia Thiều, Vũ Huy Lượng,
Phan Huy Ích, Ngọc Hân công chúa, Dương Xuân Hầu, Tạ Đình Hầu, Phạm Đan Phượng và
một vài bài thơ khuyết danh. Quyển II, tác giả giới thiệu 14 nhà thơ: Nguyễn Du, Nguyễn
Công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan, Lý Văn Phức, Cao Bá Quát, Phan Thanh Giản, Cao Bá
Nhạ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Dương Lâm, Chu Mạnh Trinh, Vũ
Phạm Hàm, Trần Tế Xương.
Về phương pháp nghiên cứu, theo như trình bày của tác giả trong “Lời của biên giả”
gồm các bước: giới thiệu tiểu sử, tham khảo so sánh, chú thích, giải thích, phê bình. Đáng
chú ý nhất là ở phương diện chú thích, tác giả đã thể hiện sự nghiên cứu rất kỹ, dịch rất sát
nghĩa nhưng cũng rất tài hoa, nhất là những bài về dịch văn xuôi ra văn vần.
Nhìn chung, Việt Nam văn học và Thi văn bình chú - hai công trình nghiên cứu, tuyển
chọn, giới thiệu văn học từ thời Lý, Trần đến cuối thế kỷ XIX của tác giả Ngô Tất Tố; xét về
cách viết chưa có gì đặc sắc, tác giả làm văn học theo lối tuyển văn và dịch văn, cả về giới
thiệu nhà văn và bình chú cũng giản lược, về quan điểm phân kì cũng là việc chia văn học
đơn giản theo triều đại: văn học đời Lý, văn học đời Trần; nhưng có lẽ đóng góp quan trọng
của Ngô Tất Tố ở hai công trình này là đã đi vào sưu tầm, tìm hiểu và giới thiệu cho độc giả
đương thời những tác phẩm và tác giả nổi bật của giai đoạn văn học tiêu biểu trong văn học
trung đại, giúp cho người đọc có được tài liệu để thưởng thức văn học, một việc làm mà cho
tới thời điểm đó là còn rất ít, đủ để cho chúng ta ghi nhận đóng góp to lớn của nhà nghiên
cứu Ngô Tất Tố trong buổi đầu nghiên cứu văn học sử nước nhà.
Cùng thời gian này, Việt Nam cổ văn học sử (1942) của Nguyễn Đổng Chi cũng xuất
hiện. Theo lời tác giả tuyên bố trong “Lệ sách” thì bộ sách Việt Nam cổ văn học sử gồm có 3
quyển, chỉ giới hạn từ thượng cổ đến cuối nhà Hồ: Quyển một biên sử văn học cho từng thời
đại; Quyển hai biên tiểu sử, dật sử và văn chương của các văn, thi sĩ, danh sĩ, những người
có công với văn học ở khoảng đời ấy; Quyển ba có bốn mục: một mục chép các sách vở
trước tác ở đời ấy, một mục những thơ văn vô danh, một mục những thơ văn hoài nghi, một
mục chú thích những điển tích khó cùng địa danh xưa [15,tr.10]. Tuy nhiên, cho đến hết năm
1945, chúng ta mới được tiếp xúc với quyển một của Việt Nam cổ văn học sử. Ngoài bài tựa
và lệ sách in ở đầu và bài tóm tắt, lời bạt in ở cuối sách, Việt Nam cổ văn học sử gồm có 11
chương lần lượt bàn về: Gốc gác người Việt Nam, Cội rễ tiếng Nam, Chữ viết thời thượng
cổ, Tư tưởng học thuật nước Tàu buổi quá khứ, Triết lý tôn giáo Ấn Độ buổi quá khứ, Từ đời
cổ đến Sĩ Nhiếp, Từ Sĩ Nhiếp đến Ngô Quyền (187 - 939), Đời Ngô, Đinh, Lê (939 - 1009),
Đời Lý (1010 - 1225), Đời Trần (1225 - 1380), Đời Hồ (1380 - 1407). Với quan niệm, văn
học Việt Nam là một dòng chảy liên tục từ quá khứ, qua hiện tại, tới tương lai, Nguyễn Đổng
Chi chia văn học Việt Nam từ thế kỷ XV trở về trước làm hai thời kỳ. Thời kỳ đầu từ đời
phát đoan đến đầu thế kỷ X - nghiên cứu về những vấn đề văn học tổng quát, xác định những
hoàn cảnh xã hội, tư tưởng mà nền văn học Việt Nam phải va chạm trong buổi đầu dựng
nước. Theo Nguyễn Đổng Chi, đây là thời kỳ đặt nền móng cho văn học Việt Nam, nên
thành tựu của văn học không có gì đáng kể, ngoại trừ “thỉnh thoảng có ít nhiều tay văn học
xuất sắc với những tác phẩm của mình”. Nguyễn Đổng Chi chỉ ra ba cái mốc đánh dấu bước
hình thành nền văn học thành văn gắn liền với tên tuổi ba nhân vật tiêu biểu: Lý Tiến đời
Hán, Sĩ Nhiếp đời Tam Quốc, Khương Công Phụ đời Đường. Đồng thời, để cho độc giả thấy
“văn chương người Nam buổi Hán học khởi thủy”, nhà nghiên cứu trích một đoạn trong bài
sớ của Lý Tiến gửi vua Hán, hay công bố bài phú “Mây trắng rọi biển xanh” để người đọc
thưởng thức lối văn “lời lẽ tao nhã mà thoát sáo” của Khương Công Phụ đời Đường. Nguyễn
Đổng Chi cũng khẳng định: nhờ có Lý Tiến, người Việt bấy giờ được ngang hàng với người
Trung Châu trên trường hoạt động văn hóa xã hội, Sĩ Nhiếp thì “đã đem lại cho văn học
được khá nhiều dấn vốn”, Khương Công Phụ thì mở ra trào lưu du học cho người Việt.
Ngoài ba tác giả kể trên, ...
Kết nối đề xuất:
Tìm tài liệu
F1 Vietnam travel
Advertisement