Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By ngomytien
#747626 Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nối
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY ĐỊNH 3
VỀ KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 3
1. Một số vấn đề cơ bản về luật điều ước quốc tế 3
1.1. Khái niệm điều ước quốc tế 3
1.1.1. Về định nghĩa ĐƯQT 3
1.1.2. Về cơ cấu ĐƯQT 6
1.1.3. Về phân loại và ngôn ngữ điều ước quốc tế 7
1.1.4. Hiệu lực của ĐƯQT 8
1.1.5. Về tên gọi của ĐƯQT 10
1.2. Khái niệm luật ĐƯQT 11
1.2.1. Về định nghĩa luật ĐƯQT 11
1.2.2. Về nguyên tắc cơ bản của luật ĐƯQT 12
1.2.3. Nguồn của luật ĐƯQT 13
1.3. Về các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện ĐƯQT 14
1.3.1. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong quá trình ký kết ĐƯQT 14
1.3.2. Nguyên tắc ĐƯQT phải có nội dung phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 15
1.3.3. Nguyên tắc pasta sunt servanda 15
2. Sơ lược quá trình phát triển của các quy định về ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay 16
2.1. Từ năm 1945 đến trước đổi mới năm 1986 16
2.1. Giai đoạn từ sau đổi mới 1986 đến nay 17
CHƯƠNG II 21
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LÍ CƠ BẢN CỦA VIỆT NAM VỀ KÝ KẾT, 21
GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ HIỆN HÀNH 21
1. Vấn đề ký kết, gia nhập ĐƯQT 21
1.1. Về thẩm quyền ký kết, gia nhập ĐƯQT 21
1.2. Quy định về vấn đề hình thành văn bản điều ước 22
1.2.1. Về việc đề xuất đàm phán 23
1.2.2. Về thẩm định ĐƯQT 23
1.2.3. Về đàm phán ĐƯQT 24
1.3. Các qui định về hành vi xác nhận sự ràng buộc đối với một ĐƯQT 25
1.3.1. Về ký ĐƯQT 25
1.3.2. Về hành vi phê chuẩn ĐƯQT 26
1.3.3. Về hành vi phê duyệt ĐƯQT 27
1.3.4. Về trao đổi văn kiện tạo thành ĐƯQT 28
1.3.5. Về gia nhập ĐƯQT 28
1.3.6. Về hiệu lực, áp dụng tạm thời toàn bộ hay một phần ĐƯQT 30
1.3.7. Về lưu chiểu, lưu trữ, sao lục, công bố, đăng kí ĐƯQT 31
2. Về các quy định pháp lý cơ bản về thực hiện ĐƯQT 32
2.1. Về kế hoặch thực hiện ĐƯQT 32
2.2. Về hoạt động giải thích ĐƯQT 32
2.3. Pháp luật Việt Nam cũng dự liệu và điều chỉnh những tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện ĐƯQT 34
2.4. Mối quan hệ giữa ĐƯQT và luật quốc gia 35
CHƯƠNG III 37
SỰ TƯƠNG THÍCH GIỮA LUẬT KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 2005 VỚI CÔNG ƯỚC VIÊN 1969. THỰC TRẠNG KÝ KẾT, THỰC HIỆN VÀ MỘT VÀI KIẾN NGHỊ NHẰM 37
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 37
1. Những điểm mới của luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 37
1.1. Những quy định chung 37
1.1.1. Về phạm vi áp dụng 37
1.1.2. Về giải thích từ ngữ 37
1.1.3. Về mối quan hệ giữa ĐƯQT và văn bản quy phạm pháp luật trong nước 38
1.2. Về ký kết ĐƯQT 39
1.3. Về gia nhập ĐƯQT nhiều bên 39
1.4. Về bảo lưu ĐƯQT; hiệu lực áp dụng tạm thời toàn bộ hay một phần ĐƯQT, lưu chiểu, lưu trữ, sao lục, công bố, đăng kí ĐƯQT 40
1.4.1. Về bảo lưu ĐƯQT 40
1.4.2. Về hiệu lực, áp dụng tạm thời toàn bộ hay một phần ĐƯQT 40
1.5. Về thực hiện ĐƯQT 41
1.6. Về trách nhiệm của cơ quan,của tổ chức, của cá nhân trong hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 41
2. Sự phù hợp của luật 2005 so với Công ước Viên 1969 về luật ĐƯQT 42
2.1. Về những quy định chung 42
2.1.1. Về phạm vi điều chỉnh 42
2.1.2. Về giải thích từ ngữ 43
2.2. Về ký kết ĐƯQT 44
2.2.1. Về vấn đề uỷ quyền 44
2.2.2. Về xác thực văn bản điều ước 44
2.2.3. Về các hình thức biểu thị sự đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của một ĐƯQT với quốc gia 45
2.2.4. Về bảo lưu ĐƯQT 46
2.3. Về thực hiện ĐƯQT 46
3. Thực trạng ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ĐƯQT ở Việt Nam 47
3.1. Thực trạng ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT ở Việt Nam từ năm 1945 đến trước ngày luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 có hiệu lực 47
3.1.1. Giai đoạn từ năm 1945-1986 47
3.1.2. Giai đoạn từ 1986 đến trước khi luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 có hiệu lực (mồng 1 tháng 1 năm 2006) 49
3.2. Những tồn tại của việc ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ĐƯQT của Việt Nam 50
3.2.1. Về thực tiễn ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 50
3.2.2. Về những quy định của pháp luật Việt Nam trong ký kết,gia nhập và thực hiện ĐƯQT trong luật 2005 51
KẾT LUẬN 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ
SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC QUY ĐỊNH
VỀ KÝ KẾT, GIA NHẬP VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

1. Một số vấn đề cơ bản về luật điều ước quốc tế
Ngày 23/5/1969 Liên hợp quốc thông qua công ước Viên 1969 về luật ĐƯQT ký kết giữa các quốc gia (gọi tắt là công ước Viên 1969) có hiệu lực 27/1/1980. Tuy không phải là khung pháp lý duy nhất điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện ĐƯQT phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau nhưng công ước này đã có một sự bao trùm lớn các vấn đề quan trọng trong lĩnh vực này. Công ước không chỉ là kết quả của quá trình pháp điển hoá thành công các quy phạm của luật tập quán quốc tế về ký kết và thực hiện ĐƯQT mà còn xây dựng được khung pháp lý quốc tế cơ bản điều chỉnh hiệu quả quan hệ ký kết và thực hiện ĐƯQT phát sinh giữa các quốc gia - chủ thể cơ bản của luật quốc tế. Sự ra đời của công ước Viên 1969 cùng với sự ra đời của Công ước Viên 1986 về luật ĐƯQT giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế hay giữa các tổ chức quốc tế với nhau (gọi tắt là Công ước Viên 1986) đã thúc đẩy việc sử dụng ĐƯQT làm công cụ pháp lý điều chỉnh mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới ngày một rộng rãi. Hơn nữa, Công ước Viên 1969 là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định nghĩa vụ pháp lý quốc tế của một quốc gia trước những thoả thuận và cam kết quốc tế đã được xác lập một cách hợp pháp. Đây là một trong những điều kiện chủ yếu về phương diện pháp lý để một quốc qia có thể hội nhập vào xu thế chung của thế giới hiện đại: xu thế toàn cầu hoá và liên kết khu vực. Quá trình ký kết, thực hiện ĐƯQT luôn tạo ra những tác động nhiều mặt đến lợi ích thiết thực của mỗi quốc gia đặt trong mối tương quan chung của lợi ích quốc tế.
1.1. Khái niệm điều ước quốc tế
1.1.1. Về định nghĩa ĐƯQT
Trong lịch sử phát triển của khoa học luật quốc tế đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về ĐƯQT, đã từng có những quan điểm cho rằng ĐƯQT là một hợp đồng như quan điểm của Andress Bello (ĐƯQT “là một hợp đồng giữa các dân tộc”) hay Laghi quan niệm ĐƯQT “thực sự là một hợp đồng theo cả nghĩa triết học và nghĩa pháp lý của ngôn từ”.
Một số khác lại dừng lại ở việc nhận thức ĐƯQT là sự thoả thuận hay sự ưng thuận nhằm tạo lập, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp lý như Diena và Mc Nair.
Trước những quan điểm khác nhau như vậy thì chúng ta phải hiểu như thế nào là một ĐƯQT ? Điểm a khoản 1 Điều 2 Công ước Viên 1969 đã xác định:
“ĐƯQT là một thoả thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả thuận đó được ghi nhận trong văn kiện duy nhất hay trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của các văn kiện đó.”
Quy định này đã làm sáng tỏ bản chất của một ĐƯQT là “thoả thuận có yếu tố quốc tế”. Thoả thuận trong ĐƯQT là sự thống nhất về quan điểm của các bên về các vấn đề của điều ước tuy nhiên thoả thuận không phải lúc nào cũng là biểu hiện của việc đàm phán giữa các bên để đi đến sự nhất trí về các vấn đề của điều ước mà có thể được biểu hiện thông qua sự chấp thuận của quốc gia đối với những quy định của một ĐƯQT đã được xây dựng. Sự thoả thuận không chỉ về nội dung, về hình thức và thủ tục ký kết điều ước mà còn được thể hiện cả trong việc xác định hình thức của điều ước. Do đó thoả thuận là nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt từ quá trình xây dựng đến khi thực hiện điều ước.
Sự thoả thuận trong điều ước phải trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi và tôn trọng các nguyên tắc khác của luật quốc tế. Thực tế, một ĐƯQT không được ký kết trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng thì không thể nói là đã có sự thoả thuận trong việc ký kết và như vậy ĐƯQT đã ký phải được xem là vô hiệu.
Điều ước phải là sự thoả thuận do luật quốc tế điều chỉnh. Đây chính là căn cứ phân biệt ĐƯQT với hợp đồng giữa các quốc gia. Ngoài ra thoả thuận được thiết lập giữa các bên là nhằm mục đích thiết lập mới các quan hệ giữa họ với nhau hay thay đổi các quan hệ đã được thiết lập hay chấm dứt các quan hệ này. Chúng ta cũng cần phân biệt ĐƯQT với cam kết quốc tế. Sự phân biệt chủ yếu này là ở bản chất của chúng. ĐƯQT là kết quả của sự thỏa thuận về ý chí của các chủ thể luật quốc tế. Như vậy quan hệ điều ước phải có sự tham gia ít nhất từ hai chủ thể luật quốc tế trở lên và tính pháp lý của các thoả thuận này được thể hiện ở kết quả là các thoả thuận đã thành công ghi nhận dưới dạng các quy phạm pháp luật quốc tế, trực tiếp điều chỉnh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia kết ước. Còn cam kết quốc tế vốn là sự tự ràng buộc của chủ thể luật quốc tế vào nghĩa vụ pháp lý quốc tế nhất định. Sự ràng buộc đó được thực hiện thông qua hành vi pháp lý đơn phương hay thoả thuận của chủ thể luật quốc tế. Trong một ĐƯQT , các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ điều ước được các chủ thể kết ước cam kết thực hiện trên cơ sở của nguyên tắc pacta sunt vervanda và các nguyên tắc khác mà Công ước Viên 1969 đã ghi nhận.
Chủ thể ĐƯQT là các chủ thể của luật quốc tế, trong đó các quốc gia chiếm vị trí chủ yếu. Mặc dù trong Điều 6 Công ước Viên 1969 chỉ đề cập đến tư cách ký kết ĐƯQT của các quốc gia nhưng Điều 3 Công ước lại qui định rằng:
“Việc Công ước này không áp dụng đối với các hiệp định quốc tế được ký kết giữa các quốc gia và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế hay giữa các chủ thể khác của pháp luật quốc tế với nhau, cũng như không áp dụng đối với những hiệp định quốc tế không thành văn, sẽ không phương hại gì đến: giá trị pháp lý của các hiệp định đó…” (Điều 3)
Điều này chứng tỏ rằng bên cạnh quốc gia, các chủ thể khác của luật quốc tế cũng có tư cách để ký kết ĐƯQT. Công ước Viên 1986 đã thừa nhận năng lực ký kết điều ước của các tổ chức quốc tế. Ngoài ra, một số phong trào giải phóng dân tộc cũng được chấp nhận là thành viên của một số Hiệp định quốc tế (dù ở mức độ hạn chế).
Khách thể của ĐƯQT là các quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế về các vấn đề tài sản hay phi tài sản, hành động hay không hành động. Thực tế, bất cứ khách thể nào của luật quốc tế cũng có thể là khách thể của ĐƯQT, ví dụ: Công ước về luật biển quốc tế, Hiệp ước về hoạch định biên giới, Hiệp định tương trợ tư pháp…Theo quan điểm chung hiện nay, những vấn đề liên quan đến công việc nội bộ tuyệt đối của quốc gia không thể là khách thể của ĐƯQT như vấn đề về đảng nào sẽ nắm vai trò lãnh đạo trong hệ thống chính trị quốc gia…
Mục đích của ĐƯQT là cái mà các chủ thể của luật quốc tế muốn thực hiện hay đạt được qua việc ký kết ĐƯQT. Hay nói cách khác ĐƯQT là công cụ để các chủ thể luật quốc tế thực hiện mục đích mà họ mong muốn.
Vậy có thể đi đến kết luận: ĐƯQT là sự thoả thuận rõ ràng về mặt ý chí của các chủ thể luật quốc tế nhằm ấn định thay đổi hay huỷ bỏ các các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong bất cứ¬ lĩnh vực nào của đời sống quốc tế.
1.1.2. Về cơ cấu ĐƯQT
Về mặt cơ cấu, ĐƯQT bao gồm 3 phần: lời nói đầu, phần nội dung chính và phần cuối cùng.
Lời nói đầu là phần mở đầu của ĐƯQT, phần này không được chia thành chương mục, điều khoản, không xác định quyền và nghĩa vụ các bên. Lời nói đầu thường bao gồm những vấn đề như: ghi nhận lí do, mục đích, nguyên tắc ký kết ĐƯQT, tên gọi các bên, bối cảnh dẫn đến ký kết…
Về nguyên tắc, nhìn chung lời nói đầu có giá trị pháp lý như phần nội dung chính, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích các quy định của điều ước trong phần chính.
Phần nội dung chính là phần quan trọng nhất của điều ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản điều chỉnh các quan hệ mà vì chúng điều ước được thiết lập giữa các bên. Phần này ghi nhận cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên.
Phần cuối cùng, cũng như phần nội dung chính, phần này được chia thành các điều khoản nhất định thường bao gồm các nội dung như: thời gian áp dụng, thời điểm bắt đầu có hiệu lực, khoảng không gian có hiệu lực, vấn đề bảo lưu, giải thích điều ước, giải quyết tranh chấp có liên quan…
Mặc dù ĐƯQT thường bố trí theo các chương, mục, điều khoản cụ thể, nhưng đây cũng không phải là yêu cầu bắt buộc về mặt hình thức thể hiện đối với mọi ĐƯQT. Chẳng hạn một số điều ước về thành lập tổ chức quốc tế như tuyên bố Băng Cốc năm 1967 về thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một trong số những ĐƯQT không có kết cấu như thường gặp.
1.1.3. Về phân loại và ngôn ngữ điều ước quốc tế
ĐƯQT có thể phân thành các loại khác nhau dựa vào tiêu chí phân loại.
Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia ký kết điều ước, ĐƯQT được phân thành 2 loại: ĐƯQT song phương và ĐƯQT đa phương.
ĐƯQT song phương là ĐƯQT được hai quốc gia ký kết. Ngoài ra ĐƯQT cũng được coi là song phương khi ký kết và thực hiện ĐƯQT có sự tham gia của nhiều quốc gia trong đó một quốc gia tham gia điều ước với tư cách là một bên khác.
ĐƯQT đa phương được chia thành 2 loại: ĐƯQT đa phương phổ biến (có sự tham gia của tất cả các quốc gia) và ĐƯQT với số lượng hạn chế, ví dụ như các điều ước đa phương khu vực.
Căn cứ lĩnh vực quan hệ điều chỉnh (khách thể của điều ước) ĐƯQT có thể được chia thành nhiều loại như: chiến tranh và hoà bình, kinh tế, nhân quyền, môi trường, tương trợ tư pháp,…
Căn cứ vào tính chất điều ước, ĐƯQT được phân thành 2 loại: ĐƯQT mở và ĐƯQT đóng.
ĐƯQT mở là ĐƯQT được ký kết với các điều kiện mở ra khả năng tham gia của bất kỳ quốc gia nào, không phụ thuộc vào việc có sự đồng ý hay không của các quốc gia đã tham gia điều ước.
ĐƯQT đóng là ĐƯQT được ký kết với điều kiện sự tham gia của các quốc gia khác sau này phải phụ thuộc sự đồng ý của các quốc gia đã tham gia điều ước (những thành viên ban đầu).
Pháp luật mỗi quốc gia lại có sự phân loại ĐƯQT khác nhau. Về tổng thể việc phân loại ĐƯQT theo pháp luật quốc gia chủ yếu tạo cơ sở dễ dàng cho công tác ký kết, thực hiện và quản lý nhà nước đối với ĐƯQT. Công ước Viên 1969 không đưa ra bất cứ một sự phân loại mang tính hệ thống nào, nó tiếp cận theo hướng ĐƯQT dù là được ký kết ở cấp nào thì vẫn mang danh nghĩa của quốc gia, tức là quốc gia mới là thành viên của ĐƯQT đó.
ĐƯQT thường được ký kết trên cơ sở các ngôn ngữ nhất định, ngôn ngữ của điều ước do các bên ký kết quyết định. Ngôn ngữ của ĐƯQT song phương thường là ngôn ngữ cua hai bên ký kết, tuy nhiên cũng có trường hợp các bên có thể chọn một ngôn ngữ khác. ĐƯQT đa phương hình thành trên cơ sơ ngôn ngữ mà các bên thoả thuận.
Thông thường các ĐƯQT được ký kết dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc hay các tổ chức chuyên môn của nó được thể hiện thông qua các ngôn ngữ chính thức của Liên hợp quốc: Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Arập. Các ĐƯQT được soạn thảo trên cơ sở các ngôn ngữ khác nhau có giá trị pháp lý như nhau. Các văn bản ĐƯQT soạn thảo bằng ngôn ngữ được lựa chọn đều là văn bản gốc và có giá trị pháp lý như nhau. Ngôn ngữ của văn bản ĐƯQT có thể được quy định ngay trong các điều khoản của điều ước ví dụ như: cách quy định của Điều 111 Hiến chương Liên hợp quốc, Điều 53 Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao…
1.1.4. Hiệu lực của ĐƯQT
- Về điều kiện có hiệu lực của ĐƯQT
ĐƯQT chỉ có thể phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của cac chủ thể tham gia ký kết khi nó phù hợp với pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật ĐƯQT nói riêng.
Trước hết là năng lực ký kết ĐƯQT, chỉ có những chủ thể có quyền năng chủ thể luật quốc tế mới có đủ tư cách để ký các ĐƯQT có hiệu lực ràng buộc.
ĐƯQT phải được ký kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, nếu vi phạm nguyên tắc này ĐƯQT có thể bị coi là vô hiệu.
ĐƯQT phải được ký kết trên cơ sở có sự tham gia của các chủ thể có liên quan trực tiếp tới các vấn đề mà ĐƯQT đề cập. Điều này xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về mặt chủ quyền giưã các quốc gia và nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau.
Để có hiệu lực pháp lý điều ước phải có nội dung không trái với các quy phạm mệnh lệnh mang tính juscogen.
Ngoài ra ĐƯQT chỉ có hiệu lực khi các điều kiện có hiệu lực xuất hiện theo quy định của điều ước và khi nó được ký kết phù hợp với luật ĐƯQT.
- Về thời gian, không gian có hiệu lực của ĐƯQT
Vấn đề thời gian có hiệu lực của ĐƯQT bao gồm thời hạn bắt đầu và thời hạn hết hiệu lực.
Cách thức quy định thời gian bắt đầu có hiệu lực của điều ước được quy định khác nhau. Có điều ước quy định rõ thời điểm có hiệu lực, có điều ước quy định thời điểm sau khi có đủ số lượng quốc gia nhất định ký kết…theo Công ước Viên 1969, trật tự và ngày có hiệu lực được các bên thoả thuận quy định rõ trong chính ĐƯQT đó. Trong trường hợp điều ước không quy định rõ ngày bắt đầu có hiệu lực pháp lý (chủ yếu là điều ước song phương) thì ngày điều ước bắt đầu có hiệu lực là ngày các bên ký kết điều ước.
Thời hạn hết hiệu lực của điều ước có thể được ghi rõ trong điều ước hay không quy định rõ (gọi là điều ước vô hạn). Đối với điều ước vô hạn thì điều ước sẽ hết hiệu lực về mặt thời gian khi các bên thoả thuận sau đó hay ký các ĐƯQT mới thay thế điều ước đang tồn tại.
Không gian có hiệu lực của điều ước được hiểu theo hai nghĩa: số lượng các quốc gia chịu sự chi phối bởi điều ước (khu vự hay toàn cầu) và khoảng không gian của trái đất chịu sự chi phối của điều ước (như châu Nam cực, khoảng không vũ trụ,…)
- Về điều ước quốc tế không hợp pháp, hết hiệu lực và bị đình chỉ hiệu lực.
ĐƯQT không hợp pháp là ĐƯQT được ký kết không phù hợp với quy định của luật quốc tế về các điều kiện hợp pháp của điều ước.
ĐƯQT hết hiệu lực là ĐƯQT không còn giá trị pháp lý ràng buộc các bên. ĐƯQT có thể hết hiệu lực trong các trường hợp như: theo quy định của điều ước; theo sự thỏa thuận của các bên tham gia điều ước; hay có ĐƯQT mới của các bên đó về cùng một vấn đề.
Theo quy định của điều ước, các trường hợp làm điều ước quốc tế hết hiệu lực thường là hết thời hạn, xuất hiện quy phạm juscogen mới, khách thể tác động của điều ước không còn hay các chủ thể ký kết không còn tồn tại.
ĐƯQT bị đình chỉ hiệu lực là ĐƯQT không có hiệu lực trong một thời gian nhất định. Ví dụ theo quy định của luật quốc tế hiện hành khi một hay tất cả các bên ký kết lâm vào tình trạng chiến tranh, các điều ước quốc tế có liên quan trong quan hệ giữa các bên có thể bị đình chỉ hiệu lực.
Hủy bỏ ĐƯQT là hành động đơn phương của một bên tuyên bố về việc điều ước hết hiệu lực mặc dù điều đó không được quy định trong điều ước hay thoả thuận mới của các bên. Cơ sở hợp pháp của một tuyên bố như vậy là việc một hay nhiều bên vi phạm cơ bản điều ước hay có sự thay đổi hoàn cảnh không thực hiện được như xuất hiện quốc gia mới mà sự kế thừa của quốc gia đó đối với điều ước không phù hợp với khách thể hay mục đích ký kết điều ước.


Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Hình đại diện của thành viên
By rica17
#1030649 Link mới update, mời bạn xem lại bài đầu để tải
Kết nối đề xuất:
Tìm tài liệu
F1 Vietnam
Advertisement