Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Peppi
#704698

Download miễn phí Luận văn Một số giải pháp để các doanh nghiệp thành viên hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) đẩy mạnh xuất khẩu cà phê UTZ





Với mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm, nhiều doanh nghiệp cà phê ở Đăk
Lak đã đăng ký tham gia chương trình sản xuất và cung ứng cà phê sạch UTZ.
Không chỉlà vấn đềchất lượng, đây còn là việc thay đổi thói quen canh tác của
người trồng cà phê, áp dụng những kỹthuật sản xuất mới đáp ứng các yêu cầu thân
thiện với môi trường, bền vững vềmặt xã hội và đảm bảo an toàn vệsinh thực
phẩm. Sản xuất cà phê theo Chương trình UTZ mà bàcon nông dân vẫn gọi nôm na
là cà phê U-tê-zét nghĩa là phải tuân thủchặt chẽtheo một quy trình kỹthuật đã
được nghiên cứu từbón phân, tưới nước, phun thuốc trừsâu cho đến thu hoạch. Và
khi chăm sóc cà phê theo kiểu mới này, bà con sẽtiết kiệm được khoảng 30% kinh
phí đầu tưso với trước đây. Những năm gần đây khi thực hiện chương trình UTZ,
các hộnông dân đã hạn chếlại, chỉphun theo từng cây nên vườn cây đạt sản lượng
cao hơn. Giảm kinh phí đầu tưnhưng vẫn đảm bảo được năng suất, sản lượng và
chất lượng vườn cây là điều những người trồng cà phê ởtỉnh Đăk Lăk đã ứng
nghiệm khi tham gia chương trình cà phê sạch UTZ. Sản phẩm cà phê được UTZ
Certified chứng nhận được mua với giá cao hơn 40 – 50 USD/tấn so với cà phê
nhân cùng loại trên các sàn giao dịch thếgiới, bởi tiêu chuẩn này giúp người mua
cuối cùng truy xuất được nguồn gốc và cũng là một minh chứng cho sản xuất cà phê
có trách nhiệm với môi trường và cộng đồng.



Để tải bản DOC Đầy Đủ xin Trả lời bài viết này, hay Admin sẽ upload thay.

Ai cần download tài liệu gì mà không tìm thấy, thì đăng yêu cầu down tại đây nhé:

http://ket-noi.com/forum/viewtopic.php?f=131&t=100854

Tóm tắt nội dung:

phiếu khảo sát hợp lệ. Kết quả khảo sát xin tham khảo chi tiết tại phụ lục
số 1.
2.3.1 Sản xuất cà phê
Theo kết quả khảo sát của tác giả thì có đến 99% số hộ nông dân được khảo sát
biết được các thông tin về sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn UTZ. Trong khi đó 4C chỉ
chiếm 60%, RainForest có tỷ lệ tương ứng là 18% và Fairtrade là 3%. Đây là một
thuận lợi để các hộ nông dân triển khai sản xuất theo tiêu chuẩn UTZ. Vì vậy, đối với
các hộ đăng ký sản xuất theo UTZ thì lợi ích khi tham gia UTZ là được hướng dẫn kỹ
thuật sản xuất an toàn (95%); được hướng dẫn an toàn lao động (85%), giá bán cao
hơn (85%) và được hỗ trợ vốn là 85%. Nguyên nhân mà bộ tiêu chí UTZ được các
nhà sản xuất và xuất khẩu chọn lựa là vì các tiêu chí của bộ nguyên tắc phù hợp với
kỷ thuật canh tác và tập tục sản xuất của người nông dân Việt Nam. Bên cạnh đó cà
phê UTZ được các thị trường nhập khẩu cà phê của Việt Nam chấp nhận số số lượng
lớn và giá cộng thêm cao.
-41-
Hình 2.1: Kết quả khảo sát về việc sản xuất theo chương trình cà phê có chứng nhận
2.3.1.1 Quy mô vườn cà phê nhỏ lẻ, phân tán
Theo Vicofa thì trên 80% diện tích cà phê cả nước do các hộ nông dân trực
tiếp quản lý, quy mô nhỏ. Theo kết quả khảo sát của tác giả tại Đăk Lăk thì 33% số
hộ có diện tích trồng cà phê nhỏ hơn 1ha; 56% hộ có diện tích từ 1 - 3ha. Số hộ gia
đình có diện tích từ 3ha và sản xuất dưới hình thức trang trại chỉ chiếm tỷ lệ 11%.
Số diện tích cà phê còn lại thuộc các doanh nghiệp Nhà nước quản lý, nhưng sau
khi thực hiện cơ chế giao khoán đến từng người lao động thì số diện tích này thực
chất cũng do hộ nông dân quản lý. So với nhiều nước trồng cà phê trên thế giới thì
các hộ nông dân trồng cà phê của Việt Nam đều thuộc dạng nhỏ, lẻ, diện tích hẹp
trung bình từ 0,5 - 1 ha và tương đối độc lập với nhau. Với thực trạng sản xuất còn
phân tán, chưa tập trung sản xuất lớn và chưa hình thành các HTX, các tổ hợp tác
nên công tác phổ biến, ứng dụng các điều khoản của Bộ nguyên tắc vào sản xuất
khá khó khăn, khó có thể áp dụng một quy chuẩn đồng bộ. Do đó, sản phẩm làm ra
không những chất lượng không cao mà còn không ổn định do điều kiện hiểu biết và
mức độ đầu tư cho khâu thu hái chế biến khác nhau làm cho chất lượng cà phê của
toàn ngành bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Hình thức tổ chức sản xuất dưới dạng hộ gia đình phân tán, nhỏ lẻ và tương
đối độc lập dẫn đến suất đầu tư trên sản phẩm của từng hộ gia đình nói riêng và toàn
ngành cà phê nói chung tăng cao do hộ gia đình nào cũng phải tự mua sắm máy
-42-
bơm, phương tiện vận chuyển, máy xay xát, đầu tư xây dựng sân phơi, kho tàng…
nhưng hiệu quả sử dụng thấp vì chỉ sử dụng một khoảng thời gian ngắn trong năm
từ đó làm tăng chí phí sản xuất dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Việc tiếp cận với
những tiến bộ khoa học công nghệ cũng như các dịch vụ khác như vay vốn tín dụng,
ngân hàng… cũng hết sức khó khăn, do khả năng tài chính hạn hẹp. Vì vậy, các
doanh nghiệp xuất khẩu luôn gặp khó khăn trong việc quản lý nhóm nông dân và
phải tốn nhiều nhân lực cho việc quản lý, hướng dẫn các hộ nông dân thực hiện theo
yêu cầu của tiêu chuẩn UTZ.
Để đáng ứng yêu cầu của UTZ, việc tập hợp các hộ sản xuất nhỏ lẻ thành các
nhóm hộ để thuận lợi cho việc chuyển giao, tập huấn các thành tựu của khoa học kỹ
thuật, chia sẽ kinh nghiệm sản xuất, sử dụng hợp lý hơn vật tư nguyên liệu cũng
như các nguồn tài nguyên (đất, nước) để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng
suất, sản lượng, hạn chế sự lãng phí đầu tư là hết sức cần thiết. Xây dựng và chứng
nhận cho nhóm hộ sản xuất của UTZ là lời giải cho bài toán này. Với thực trạng của
diện tích sản xuất cà phê tại các hộ nông dân nhỏ như hiện nay, tác giả đề xuất giải
pháp: tiếp tục và kiên trì phát triển các mô hình: các hợp tác xã hay tập hợp nhóm
hộ sản xuất liên kết với các đơn vị kinh doanh xuất khẩu để hình thành chuỗi liên
kết, có điều kiện tiếp cận các khoa học kỹ thuật, … Với mô hình áp dụng tiêu chuẩn
UTZ là để tập hợp tất cả các hộ sản xuất cà phê nhỏ lẻ lại tạo thành những HTX lớn,
từ đó họ có quyền quyết định về giá với các nhà xuất khẩu, đồng thời các nhà xuất
khẩu cũng quyết định được chất lượng cà phê của họ. Đây là mô hình được áp dụng
thành công tại các nước xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới như Brazil, Colômbia…
Nhờ đó giá thành của sản phẩm cuối cùng tốt hơn theo mô hình chứng nhận của
UTZ Certified như các mô hình trong thời gian qua đã được thực hiện:
- Nhóm 150 hộ sản xuất tại Dak Nông liên kết với Công ty Mercafe Việt Nam.
- Nhóm 950 hộ sản xuất trên các địa bàn các Huyện (Eakar, Krông Năng,
T.phố BMT) Tỉnh DakLak liên kết với Công ty XNK 2/9 Daklak.
- Nhóm 1400 hộ sản xuất trên địa bàn Huyện Dak Sông- Dak Nông – Huyện
Cư Mga - Dak Lak liên kết với Công ty đầu tư XNK cà phê Tây nguyên.
-43-
- Nhóm 850 hộ trên địa bàn Huyện (Bảo Lộc - Di Linh) Tỉnh Lâm Đồng liên
kết với Công ty ACOM Việt Nam.
- Nhóm 1100 hộ trên địa bàn Huyện Lâm Hà - Tỉnh Lâm Đồng liên kết với
Công ty cà phê Thái Hòa.
- Nhóm 450 hộ sản xuất trên địa bàn Huyện Cư Mga – Đăk Lăk liên kết với
Liên Doanh Man - Buôn Ma Thuột…
2.3.1.2 Diện tích vườn cà phê già cỗi đang tăng
Cà phê có tuổi thọ khá dài, trong điều kiện bình thường có thể sống đến 30 -
40 năm vẫn cho thu hoạch. Tuy nhiên, thời kỳ sung sức nhất, cho năng suất cao
nhất là vào khoảng năm thứ 10 đến năm thứ 20. Sau đó năng suất cà phê giảm dần
và đi vào thời kỳ suy thoái. Ở Việt Nam do sản xuất cà phê theo kiểu khai thác tối
đa để cho năng suất cao nên cây chóng kiệt sức, vườn cây trồng chủ yếu theo
cách độc canh, diện tích cà phê có cây che bóng chỉ đạt 4,9%. Vì vậy, tuổi
thọ của cây cà phê Việt Nam chỉ vào khoảng 20 năm. Sản xuất cà phê thiếu tính bền
vững nên vườn cà phê dễ bị các loại bệnh hại tấn công, chu kỳ khai thác ngắn lại.
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam thì trong tổng số trên
500.000 ha cà phê của cả nước chỉ có khoảng 274.000ha (chiếm 54,8%) được trồng
ở giai đoạn sau năm 1993 là trong độ tuổi từ 10 - 15 năm. 139.600 ha được trồng từ
1988 – 1993 đến nay tuổi đã từ 15 - 20 năm. Và 86.400 ha trồng từ trước năm 1988
đến nay đã trên 20 năm tuổi.
Theo khảo sát của tác giả thì chỉ có 6,1% vườn cà phê nhỏ hơn 10 tuổi, 25,3%
có tuổi từ 10 – 15. Còn lại 56,6% vườn cà phê có tuổi từ 15 – 20 và 12,1% vườn cà
phê trên 20 tuổi. Như vậy, trong thời gian 5 - 10 năm tới sẽ có trên 50% diên tích cà
phê Việt Nam đã hết thời kỳ kinh doanh hiệu quả phải cưa bỏ, phục hồi hay trồng
lại. Như vậy, với diện tích cà phê già cỗi sẽ làm hạn chế việc sản xuất theo tiêu
chuẩn UTZ tại các hộ nông dân.
-44-
Quan điểm phát triển bền vững của UTZ cũng liên quan đến vấn đề này. Bên
cạnh việc đầu tư phân bón phù hợp với nhu c
Kết nối đề xuất:
Tìm tài liệu
F1 Vietnam travel
Advertisement