Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By tiasangcuoichieu_nd84
#687005 Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nối

VAI TRÒ CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
TRONG HỆ THỐNG NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ

I. NGUỒN CỦA LUẬT QUỐC TẾ.
1. Định nghĩa.
Nguồn của pháp luật là hình thức biểu hiện của các quy phạm pháp luật. Nguồn của pháp luật biểu hiện dưới 2 dạng thành văn và bất thành văn. Liên quan đến nguồn của LQT có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo nghĩa hẹp: nguồn là hình thức chứa đựng, ghi nhận các nguyên tắc, các quy phạm pháp lý quốc tế nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp lý quốc tế. Theo đó, LQT gồm 2 loại nguồn cơ bản là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế.
Theo nghĩa rộng: nguồn của LQT là tất cả những cái mà cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào đó để đưa ra các quyết định pháp luật.
Vấn đề nguồn của luật quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về pháp lý và thực tiễn vì nó liên quan chặc chẽ đến việc xác định sự hình thành của quan hệ quốc tế nói riêng và quá trình thực thi luật quốc tế nói chung.
Về pháp lý, nguồn của luật quốc tế là hình thức chứa đựng các quy phạm luật quốc tế. Việc viện dẫn, áp dụng các loại nguồn của luật quốc tế hiện vẫn tuân theo cách xác định truyền thống như khoản 1, điều 38 Quy chế tòa án công lý quốc tế quy định, theo đó, luật quốc tế có hai loại nguồn là nguồn thành văn (điều ước quốc tế), và nguồn bất thành văn (tập quán quốc tế) với nội dung chứa đựng các quy phạm luật quốc tế, trực tiếp điều chỉnh quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể quan hệ quốc tế.
Về lý luận, nguồn của luật quốc tế là phạm trù là pháp lý gắn liền với quá trình hình thành các quy định của luật này. Do đó cần có sự phân biệt giữa nguồn của luật quốc tế (để chứa đựng quy phạm luật quốc tế) với những phương tiện hỗ trợ việc xác định quy phạm luật quốc tế, cũng được đề cập tại khoản 1 điều 38 Quy chế tòa án quốc tế liên hợp quốc (bao gồm án lệ, các học thuyết của các luật gia có trình độ cao) và một số hình thức khác hình thành trong thực tiễn phát triển của luật quốc tế như nghị quyết không bắt buộc của tổ chức quốc tế, hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia…
Về tổng thể, hai dạng nguồn thành văn và bất thành văn như trên được chủ thể của luật quốc tế viện dẫn, áp dụng khác với cách viện dẫn, áp dụng của luật quốc gia. Chẳng hạn, các chủ thể của luật quốc tế có thể thỏa thuận trong viện viện dẫn đến nguồn nào trong số những điều ước mà các bên kết ước hiện là thành viên hay tập quán quốc tế hiện hành khi áp dụng giải quyết một quan hệ pháp luật quốc tế cụ thể phát sinh giữa các chủ thể đó, với diều kiện sự thỏa thuận này không làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên thứ ba hay lợi ích của cộng đồng quốc tế. hay như, trong luật quốc tế, một quy phạm điều ước hoàn toàn có thể được chủ thể luật quốc tế việ dẫn để áp dụng với giá trị pháp lý của quy phạm tập quán quốc tế (phát sinh từ thực tiễn xây dựng và thực thi điều ước quốc tế ).
Riêng loại hình các văn bản có hiệu lực bắt buộc do các cơ quan, thiết chế của tổ chức quốc tế ban hành, về pháp lý, có giá trị là luật quốc tế đối với phạm vi chủ thể chịu sự điều chỉnh của nhừng văn bản này (như các quyết định của liên minh châu Âu).
2. Cơ sở pháp lý xác định nguồn.
Khoản 1 điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế của LHQ quy định"Tòa án có trách nhiệm giải quyết các vụ tranh chấp được chuyển đến tòa án trên cơ sở công pháp quốc tế theo:
- Các công ước quốc tế chung hay riêng đã thiết lập ra những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận.
- Các tập quán quốc tế như là một chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận là một tiêu chuẩn pháp lý.
- Những nguyên tắc pháp lý được các dân tộc văn minh thừa nhận.
- Các Nghị quyết xét xử và các luận thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật pháp công khai của nhiều dân tộc khác nhau được coi là các phương tiện bổ trợ để xác định các tiêu chuẩn pháp lý."
Như vậy, Điều 38(1) Quy chế tòa án công lý quốc tế đã đưa ra danh sách các nguồn truyền thống của LQT như:
 Các công ước quốc tế chung hay cụ thể, tập quán quốc tế.
 Các nguyên tắc cơ bản của LQT, các quyết định của tòa án.
 Các bài giảng của các học giả có chuyên môn cao.
Tuy nhiên, Điều 38(1) chưa đề cập một cách đầy đủ các loại nguồn bổ trợ của luật quốc tế. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, ngoài các loại nguồn đã nêu trong điều 38(1) các chủ thể LQT còn thừa nhận một số các nguồn khác, có tính chất là nguồn bổ trợ cho nguồn cơ bản của LQT như: Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, hành vi pháp lý đơn phương của các quốc gia...Do đó, ngoài điều 38(1), thực tiễn áp dụng nguồn của các chủ thể LQT cũng là cơ sở để hình thành các loại nguồn của LQT.
3. Phân loại: Có 2 loại nguồn.
Điều ước quốc tế (nguồn thành văn)
- Nguồn cơ bản:
Tập quán quốc tế (nguồn bất thành văn).
- Nguồn bổ trợ: đây là các phương tiện bổ trợ nguồn của LQT, bao gồm:
 Các phán quyết của tòa án công lý quốc tế.
 Các nguyên tắc pháp luật chung.
 Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ.
 Hành vi pháp lý đơn phương của các quốc gia.
 Các học thuyết của các học giả danh tiếng về LQT.
 TẬP QUÁN QUỐC TẾ.
• Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự chung ban đầu do một hay một số quốc gia đưa ra và áp dụng trong quan hệ với nhau. Sau một quá trình áp dụng lâu dài, rộng rãi và được nhiều quốc gia thừa nhận như những qui phạm pháp lý nên những qui tắc xử sự đó đã trở thành tập quán quốc tế.
Vậy, tập quán quốc tế là những qui tắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận rộng rãi là những qui tắc có tính chất pháp lý bắt buộc.
• Đặc điểm: Từ định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể thấy tập quán quốc tế có những đặc điểm sau:
- Về hình thức: Quy phạm tập quán quốc tế tồn tại dưới dạng các hành vi xử sự của các chủ thể LQT. Do đó, tập quán quốc tế luôn ở dạng bất thành văn.
- Về nội dung: tập quán quốc tế có nội dung là các nguyên tắc và quy phạm tập quán quốc tế, chứa đựng các quy tắc điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể LQT. Quy phạm tập quán quốc tế được cấu tạo bởi 3 bộ phận là giả định, quy định và chế tài. Giả định là những yếu tố tạo nên hoàn cảnh thực tiễn. Quy định là tổng thể hành vi mà chủ thể LQT thực hiện. Khả năng phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế khi các chủ thể này xử sự không đúng, hay không đầy đủ yêu cầu của quy phạm tập quán quốc tế là chế tài của quy phạm tập quán quốc tế.
- Về chủ thể: Chủ thể của quy phạm tập quán quốc tế là chủ thể của LQT.

II. ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ.
1. Khái niệm:
Theo Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia thì điều ước quốc tế được xác định là "một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì".
Như vậy, với tư cách là nguồn cơ bản của LQT, điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của LQT với nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm thiết lập những quy tắc pháp lý bắt buộc gọi là những quy phạm LQT, để ấn định, thay đổi hay hủy bỏ những quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
Trong quan hệ quốc tế hiện nay, điều ước quốc tế chủ yếu được trình bày dưới dạng thành văn, nhưng cũng một số điều ước quốc tế chỉ là thỏa thuận miệng - đó là các điều ước quân tử. Tuy nhiên, hiện nay các điều ước quân tử hầu như rất ít xuất hiện trong quan hệ giữa các chủ thể LQT.
2. Điều kiện để một điều ước quốc tế trở thành nguồn của LQT.


Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement