Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By hue_yb
#686992

Download Tiểu luận Các loại hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá miễn phí





Hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.
+ Đối với tổ chức tín dụng:
- Nghiệp vụ chiết khấu có quy trình đơn giản, nhanh chóng, tốn ít chi phí giao dịch cho các bên và đặc biệt là cho các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, hoạt động cho vau của tổ chức tín dụng phải thẩm định hồ sơ xin vay của khách hàng với nhiều thao tác phức tạp, nhất là việc thẩm định giá trị hay tính hợp pháp của tài sản bảo đảm.
- Nghiệp vụ chiết khấu là nghiệp vụ hạn chế rủi ro tín dụng cho tổ chức tín dụng. So với hoạt động cho vay, chiết khấu có sự đảm bảo trả nợ từ người mắc nợ theo chứng từ và được đảm bảo từ những người khác có liên quan tới chứng từ: người bảo lãnh, người ký phạt, người chuyển nhượng chứng từ.
Đặc biệt, trường hợp đối tượng chiết khấu là hối phiếu thì pháp luật về hối phiếu còn cho phép người thụ hưởng có quyền truy đòi đối với những người liên đới trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

ết khấu giấy tờ có giá toàn bộ thời hạn:
Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá toàn bộ thời hạn là sự thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng về việc mua hẳn các giấy tờ có giá, trong đó khách hàng phải chuyển giao ngay quyền sở hữu các giấy tờ có giá đó khi được tổ chức tín dụng chấp nhận chiết khấu.
Kể từ thời điểm khách hàng hoàn thành thủ tục chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá đó, tổ chức tín dụng là chủ sở hữu hợp pháp đối với các giấy tờ có giá được hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ giấy tờ có giá. Tổ chức tín dụng có thể tái chiết khấu tại các tổ chức tín dụng khác hay tại ngân hàng nhà nước vào bất cứ thời điểm nào trước khi các giấy tờ có giá đó đến hạn thanh toán mà không vi phạm các điều khoản của hợp đồng.
Khi tiến hành trả tiền cho khách hàng, số tiền mà tổ chức tín dụng sẽ trả bằng mệnh giá ghi trên giấy tờ có giá – lãi chiết khấu và các chi phí khác. Lãi chiết khấu được tính tương ứng toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá kể từ khi được tổ chức tín dụng chấp nhận chiết khấu cho đến ngày đáo hạn.
+> Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có thời hạn:
Hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá có thời hạn là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng và khách hàng về việc mua các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán, trong hợp đồng có điều kiện cam kết khách hàng sẽ mua lại giấu tờ có giá đã được chấp nhận chiết khấu trong một thời hạn nhất định trước khi nó đến hạn thanh toán với giá cả do các bên thỏa thuận trước. Thời hạn này được gọi là thời hạn chiết khấu.
Theo khoản 4 Điều 3 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu, thời hạn chiết khấu là khoảng thời gian tính từ ngày giấy tờ có giá được tổ chức tín dụng nhận chiết khấu đến ngày khách hàng có nghĩa vụ thực hiện cam kết mua lại giấy tờ có giá đó.
Như vậy, theo điểm b khoản 2 Điều 8 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu, tổ chức tín dụng chỉ trở thành chủ sở hữu hợp pháp đối với các giấy tờ có giá khi hết thời hạn cam kết trong hợp đồng mà khách hàng không thực hiện việc mua lại các giấy tờ có giá đó. Nếu tổ chức tín dụng muốn chuyển giao các giấy tờ có giá đó trong thời hạn chiết khấu thì quyền ưu tiên mua sẽ thuộc về khách hàng, sau đó đến các tổ chức tín dụng khác.
Để phù hợp với bản chất của hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, theo đó tổ chức tín dụng sẽ được quyền sở hữu các giấy tờ có giá ngay sau khi khách hàng hoàn thành thủ tục chuyển nhượng giấy tờ có giá đó cho mình. Việc này dẫn đến hệ quả: tổ chức tín dụng có quyền định đoạt (trong đó có quyền chuyển nhượng giấy tờ có giá đó cho người khác).
b. Căn cứ vào nội dung: Ngoài căn cứ vào cách thì người ta còn căn cứ vào nội dung hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá mà chia ra hợp đồng về thương phiếu, kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu…
Chiết khấu thương phiếu là một hình thức tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại được thực hiện dưới hình thức khách hàng sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng để nhận một khoản tiền thấp hơn mệnh giá của thương phiếu. Số tiền chênh lệch giữa mệnh giá thương phiếu so với số tiền khách hàng nhận được gọi là lãi chiết khấu và phí hoa hồng.
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hay cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Thương phiếu gồm có 2 loại là hối phiếu và lệnh phiếu.
+>Theo Pháp lệnh thương phiếu của Việt Nam, Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hay vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng. Trong thương mại hối phiếu do người xuất khẩu ký phát để đòi tiền người trả tiền, có thể là người nhập khẩu hay ngân hàng phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của người nhập khẩu.
+>Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hay vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.
2. Cơ sở khoa học:
2.1 Cơ sở pháp lí về hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá:
Chiết khấu giấy tờ có là nghiệp vụ cấp tín dụng tương đối cổ điển của tổ chức tín dụng . Nghiệp vụ này được các ngân hàng ở Châu âu áp dụng lần đầu tiên vào thế kỉ thứ 13 mà đối tượng chiết khấu lúc ấy chỉ là các phiếu nợ thương mại (thương phiếu) do các thương nhân châu Âu phát hành nhằm xác nhận quan hệ mua bán chịu hàng hóa giữa họ với nhau. Trải qua thời gian, nghiệp vụ chiết khấu ngày càng phát triển với đối tượng chiết khấu ngày càng phong phú, đa dạng hơn, không chỉ là các thương phiếu như thuở sơ khai của nghiệp vụ này mà còn bao gồm cả các giấy tờ có khác như tín phiếu hay các khoản cho vay ngắn hạn, thậm chí là cả giấy tờ có giá dài hạn. Ở nhiều nước trên thế giới, nghiệp vụ chiết khấu của các tổ chức tín dụng thường được qui định trong các đạo luật về ngân hàng và sau đó có thể được Chính phủ và Ngân hàng Trung ương qui định cụ thể bằng các văn bản dưới luật để thi hành. Còn ở Việt nam, nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá tuy đã được pháp luật thừa nhận bằng một số qui định chung trong Luật các tổ chức tín dụng nhưng trên thực tế nghiệp vụ này vẫn chưa được các tổ chức tín dụng triển khai áp dụng một cách triệt để.
Sự thật, trong một thời gian khá dài, các qui định về pháp luật về loại hình giao dịch này tỏ ra quá ít ỏi, tản mát, chưa đầy đủ và chưa nhất quán. Thực vậy, ngoài một vài điều khoản trong Luật tổ chức tín dụng (khoản 14,15 điều 57) được sửa đổi bổ năm 2004 sung qui định trực tiếp hay gián tiếp về nghiệp vụ chiết khấu của tổ chức tín dụng với các giấy tờ có giá của khách hàng, tại khoản 6 điều 15 Nghị định số 32/2001/ NĐ-CP ngày 05/07/2001 của Chính phủ về việc hướng dẫn chi tiết thực hiện Pháp lệnh Thương phiếu cũng có đề cập đến giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá là thương phiếu nhưng cũng chỉ là những qui định có tính dẫn chiếu đến pháp luật ngân hàng. Các qui định rất cơ bản trong các văn bản qui phạm pháp luật này suy cho cùng cũng chỉ là thừa nhận tính hợp pháp của các giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng, thiếu những qui định về chủ thể cũng như điều kiện của họ khi tham gia quan hệ chiết khấu giấy tờ có giá, về trình tự thủ tục tại các ngân hàng. Cuối cùng, sau hơn 5 năm kể từ ngày Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành, cho đến gần đây Ngân hàng nhà nước mới ban hành một văn bản riêng để qui định cụ thể và chi tiết về qui chế pháp lí dành cho nghiệp vụ chiết khấu của tổ chức tín dụng, đó là Qui chế chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định số 1325/2004/ QĐ-NHNN ngày ...
Kết nối đề xuất:
Thành ngữ tiếng Anh có chứa die
Advertisement
Advertisement