Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Yardley
#686955

Download Tiểu luận Tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam miễn phí





Khoản 1 Điều 33 luật HN&GD 2000 quy định: “Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, và định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này”.Với tư cách là chủ sở hữu tài sản của mình, vợ, chồng có toàn quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt)đối với tài sản riêng, không phụ thuộc bởi ý chí của bên người chồng, vợ kia.Đối với tài sản riêng của vợ,chồng mỗi bên sẽ tự quản lý tài sản riêng của mình.Trong trường hợp vợ hay chồng không thể tự quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên vợ, chồng kia có quyền quản lý tài sản riêng đó(khoản 2 Điều 33).Trong việc quản lý tài sản riêng của vợ, chồng mình, người chồng, vợ có nghĩa vụ bảo quản giữ gìn các tài sản đó như tài sản của mình, nếu làm hư hại, thất thoát mà không có lý do chính đáng thì có nghĩa vụ bồi thường(khi có yêu cầu).Trường hợp một bên đã tự ý định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng mình khi tham gia các giao dịch dân sự, thì bên kia có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu.Với tư cách là chủ sở hữu tài sản riêng của mình, khi thực hiện quyền sở hữu(đối với các tài sản theo khoản 5 Điều 33), vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; việc ủy quyền đó phải được lập thành văn bản(khoản 1 Điều 24 luật HN&GĐ năm 2000).



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

sở hữu tài sản.
+ Việc xác định tài sản có trước khi cưới là tài sản chung dẫn đến khuynh hướng xấu trong hôn nhân. Không ít trường hợp kết hôn vì tiền tài , tìm người giàu có để kết hôn chứ không phải là xuất phát từ tình yêu chân chính, do đó tác động xấu đến mục đích hôn nhân và gia đình tốt đẹp trong chế độ ta.
+ Khi ly hôn- về nguyên tắc tài sản chung được chia đôi sau đó mới tính tới các yếu tố khác là không đảm bảo được lợi ích người có tài sản trước khi kết hôn , được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, đó là trường hợp chưa kể đến tình trạng ngay cả khi hôn nhân tồn tại ,do mâu thuẫn gia đình, một bên lạm dụng quyền sở hữu chung về tài sản tự định đoạt tài sản chung mà nguồn gốc chính là của người kia có trước khi kết hôn hay được tặng cho, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân hay phá tán tài sản không vì mục đích lợi ích chung của gia đình. Thực tiễn xét xử cho thấy rằng những trường hợp mà một bên vợ hay chồng phạm tội bị tịch thu tài sản hay bồi thường thiệt hại cho người khác khi thi hành án mà không tách tài sản này thành chế độ tài sản riêng thì sẽ làm thiệt hại đến lợi ích chính đáng của bên kia.
+ Tâm lý dân tộc, họ hàng, chú bác, anh chị em ruột hay bạn bè, người thân của một trong hai người(vợ chồng) chỉ cho riêng, thừa kế riêng nhưng xử lý theo luật 1959 thành của chung hết là trái với nguyện vọng, tâm tư chính đáng của người lại tặng cho hay để lại tài sản thừa kế ,xâm phạm đến lợi ích chính đáng của người nhận tài sản trái với nguyên tắc tự định đoạt của công dân.
+ Trong đời sống vợ chồng không chỉ có mối quan hệ qua lại với nhau, với các thành viên trong gia đình mà còn nhiều mối quan hệ khác nữa. Trong mối quan hệ này ngoài nhu cầu giao lưu tình cảm họ còn mong muốn có một số tài sản độc lập để giúp đỡ, làm quà lưu liệm hay tham gia các hoạt động xã hội khác..nhu cầu đó là hoàn toàn chính đáng. Do đó chế độ tài sản chung của vợ chồng đã làm cản trở đến nhu cầu chính đáng của họ, dẫn đến tình trạng thực tế người vợ hay chồng cần chu cấp, đùm bọc, giúp đỡ bà con thân thuộc , bạn bè nhiều khi phải dấu diếm, thậm chí dối trá vì không muôn mang tiếng động chạm đến tài sản chung.
+ Cuộc sống gia đình liên quan đến kinh tế và tài chính nếu không ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng sẽ không bảo đảm tính độc lập của mỗi bên trong việc thực hiện quyền của mình đối với tài sản và nhu cầu tình cảm riêng thực tiễn cuộc sống cho thấy việc thực hiện nghĩa vụ của vợ hay chồng đối với bố mẹ đẻ già yếu, anh chị em ruột không có khả năng lao động sẽ là một cản trở lớn khi khối tài sản của vợ chồng do cả hai vợ chồng cùng định đoạt.
+ Cuối cùng nước ta đang bước vào nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN gia đình đã trở thành một đơn vị kinh tế trong xã hội do đó vấn đề đặt ra trong gia đình là phải phân biệt các hình thức sở hữu tạo điều kiện thuận lợi trong các hoạt động kinh tế. Quyền tự do kinh doanh đã trở thành nguyên tắc hiến định việc làm rõ trách nhiệm pháp lý về tài sản trong quan hệ thương trường từ trong gia đình đến ngoài xã hội là một yêu cầu tất yếu vì thế yêu cầu đặt ra là phải ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng là đòi hỏi khách quan trong luật HN&GĐ.
1.4.Ý nghĩa của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng
Việc ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng tạo ra cơ sở pháp lý để vợ, chồng chủ động tham gia vào các giao dịch dân sự và kinh tế, bảo đảm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình cũng như cá nhân vợ, chồng. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm của các bên vợ, chồng trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản. Qua đó giúp “minh bạch hóa” các giao dịch dân sự mà mỗi bên chủ thể là vợ, chồng, tạo căn cứ pháp lý trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ, chồng, giúp cho người có quyền (người thứ 3) xác định được nghĩa vụ mà vợ chồng phải thực hiện được bảo đảm bằng tài sản chung hay bằng tài sản riêng, tức là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền khi vợ chồng là người có nghĩa vụ, lợi ích của cộng đồng và của xã hội vì thế cũng được bảo đảm
Việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng còn góp phần hạn chế các quan hệ hôn nhân được thiết lập không dựa trên yếu tố tình cảm chân thành mà được dựa trên yếu tố vật chất-hôn nhân thực dụng.
II) Cơ sở thực tiễn của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng
2.1.Bản chất pháp lý của việc ghi nhận quyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng.
Luật HN&GĐ năm 1986 bên cạnh việc ghi nhận tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng còn khẳng định vợ chồng còn có quyền có tài sản riêng tại Điều 16 “Đối với tài sản mà vợ hay chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hay được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hay không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng”.Tương tự tại khoản 1 Điều 32 luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy định “Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 điều 29 và Điều 30 của luật này;đồ dùng, tư trang cá nhân”.Việc ghi nhận vợ chồng có quyền có tài sản riêng là một bảo đảm pháp lý quan trọng trong cuộc sống, lao động, sinh hoạt của từng cá nhân công dân không bị chi phối bởi một yếu tố tác động tình cảm nào. Quyền này còn được ghi nhận tại Điều 58 của Hiến pháp 1992 “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hay trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18.Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu và quyền thừa kế của công dân”và Điều 221 bộ luật Dân sự năm 1995 tài sản thuộc sở hữu tư nhân bao gồm: “thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi , lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân”. Đối với tài sản thuộc sở hữu tư nhân, cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng , định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh và các mục đích khác phù hợp với quy định của pháp luật và không làm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác. Như vậy trong hôn nhân, vợ chồng có quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu riêng phục vụ cho nhu cầu của mình với bất kỳ mục đích gì miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội, sự kiện kết hôn không hề làm mất đi quyền sở hữu tài sản riêng của họ.
2.2.Căn cứ ghi nhận quyền có tài sản riêng c
Kết nối đề xuất:
Tìm tài liệu
F1 Vietnam travel
Advertisement