Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By camaphehe
#686774

Download Tiểu luận Hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh miễn phí





CTHD được thành lập và là một pháp nhân độc lập sau khi được cấp giấy chứng nhận ĐKKD (Khoản 2 Điều 130 Luật DN 2005). Luật Việt Nam nhấn mạnh ý nghĩa của hành vi ĐKKD. Mặc dù vậy, thỏa thuận thành lập hợp danh cũng rất quan trọng theo pháp luật Việt Nam. Nội dung các thỏa thuận này được ghi nhận trong điều lệ công ti hợp danh và giấy đề nghị ĐKKD (điều 17, 21, 22 Luật DN). 16 nội dung chính của bản điều lệ, dựa vào đó các sáng lập viên CTHD có thể thỏa thuận chi tiết phù hợp với từng dự án cụ thể (điều 22 - LDN). Ngoài các quy định của LDN, các quy định chung từ điều 388 đến điều 411 của Bộ Luật dân sự (BLDS) 2005 vẫn có thể được dẫn chiếu để xem xét hiệu lực của thỏa thuận hợp danh, việc tuân thủ các nghĩa vụ đã cam kết của các thành viên cũng như trách nhiệm pháp lí nếu có vi phạm. Ngoài ra các thành viên hợp danh cần có chứng chỉ hành nghề (ví dụ thẻ luật sư, thẻ kiểm toán viên) đối với những dịch vụ cần có chứng chỉ và các điều kiện hành nghề khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành (khoản 5, điều 17 LDN). Hồ sơ, thủ tục thành lập CTHD được quy định trong Luật DN và Nghị định 88/2006 của Chính Phủ về ĐKKD .



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

ó những hiểu biết khá đầy đủ về nhau. Vì thế một khi liên kết lại, họ có thể dựa vào nhau để phát huy hết thế mạnh của từng thành viên trong một nỗ lực chung là nhằm phát triển công ty. Hơn nữa, công ty hợp danh Việt Nam là do các thành viên hợp danh trực tiếp điều hành, quản lý mà những thành viên này lại là những người chịu trách nhiệm vô hạn (bằng toàn bộ tài sản có của mình) trước các khoản nợ công ty. Chính vì thế, tuy xét ở góc độ khách quan thì tư cách thành viên hợp danh có vẻ mang lại nhiều rủi ro, nhưng xét góc độ chủ quan thì chính vì ý thức được về trách nhiệm vô hạn của mình mà mỗi thành viên hợp danh đều làm mọi cách để giảm thiểu rủi ro cho chính mình trong quá trình điều hành công ty. Đó cũng là việc các thành viên hợp danh cũng nhau tìm ra phương án kinh doanh tốt nhất và luôn đặt lợi ích chung nhất của công ty lên hàng đầu. Đây là một ưu điểm khó có loại hình công ty đối vốn nào có được.
Thứ tư, cũng chính xuất phát từ quyền quản lý tuyệt đối được trao cho các thành viên hợp danh mà việc tổ chức bộ máy trong công ty hợp danh rất gọn nhẹ, không phức tạp, không có sự phân hóa quyền quản lý dựa trên tỉ lệ đa vốn của bất cứ thành viên nào. Một khi đã trở thành thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì pháp luật không cần biết thành viên nào đóng góp vào công ty số vốn nhiều hơn, mà tất cả các thành viên hợp danh đều có quyền ngang nhau trong quản lý. Các thành viên hợp danh lúc này có sự phân công nhau điều hành và trực tiếp quản lý, thực hiện các hoạt động kinh doanh của công ty, pháp luật cũng không can thiệp và việc bộ máy quản lý phải được tổ chức như thế nào, vận hành ra sao như đối với các công ty đối vốn khác. Tránh được sự can thiệp này từ phía nhà nước, các công ty hợp danh trở nên linh hoạt hơn, tự chủ hơn và phù hợp hơn với những cơ hội kinh doanh ngày càng khắt khe của nền kinh tế thị trường. Mặt khác, sự phát triển của công ty hợp danh phụ thuộc nhiều vào sự sáng tạo trong kinh doanh của các thành viên hợp danh, vì thế, mô hình công ty hợp danh phát huy được những tiềm lực to lớn về trí tuệ con người trong kinh doanh.
Thứ năm, công ty hợp danh là mô hình kinh doanh phù hợp với đặc điểm tâm lý, truyền thống kinh doanh của người Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng- đó là việc kinh doanh dựa trên cơ sở liên kết theo kiểu “phường hội”, “làng xã” dựa vào dòng họ, huyết thống là chủ yếu thì các loại hình kinh doanh vừa và nhỏ là rất phù hợp. Chúng ta cần khuyến khích và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho loại hình này phát triển.
Các quy định vấn đề pháp lý cơ bản đối với công ty hợp danh
Thành lập công ty hợp danh và vấn đề tư cách pháp nhân
Thành lập công ty
CTHD được thành lập và là một pháp nhân độc lập sau khi được cấp giấy chứng nhận ĐKKD (Khoản 2 Điều 130 Luật DN 2005). Luật Việt Nam nhấn mạnh ý nghĩa của hành vi ĐKKD. Mặc dù vậy, thỏa thuận thành lập hợp danh cũng rất quan trọng theo pháp luật Việt Nam. Nội dung các thỏa thuận này được ghi nhận trong điều lệ công ti hợp danh và giấy đề nghị ĐKKD (điều 17, 21, 22 Luật DN). 16 nội dung chính của bản điều lệ, dựa vào đó các sáng lập viên CTHD có thể thỏa thuận chi tiết phù hợp với từng dự án cụ thể (điều 22 - LDN). Ngoài các quy định của LDN, các quy định chung từ điều 388 đến điều 411 của Bộ Luật dân sự (BLDS) 2005 vẫn có thể được dẫn chiếu để xem xét hiệu lực của thỏa thuận hợp danh, việc tuân thủ các nghĩa vụ đã cam kết của các thành viên cũng như trách nhiệm pháp lí nếu có vi phạm. Ngoài ra các thành viên hợp danh cần có chứng chỉ hành nghề (ví dụ thẻ luật sư, thẻ kiểm toán viên) đối với những dịch vụ cần có chứng chỉ và các điều kiện hành nghề khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành (khoản 5, điều 17 LDN). Hồ sơ, thủ tục thành lập CTHD được quy định trong Luật DN và Nghị định 88/2006 của Chính Phủ về ĐKKD Xem mẫu hồ sơ Đăng ký kinh doanh tại phần phụ lục Nghị định 88/2006 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh
.
Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh
Việc quy định tư cách pháp nhân cho một tổ chức hay đúng hơn là việc hình thành khái niệm pháp nhân đem lại nhiều lợi ích theo ý kiến của Giáo sư Jean Claude Ricci Xem
:
Thứ nhất, việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật được đơn giản hóa. Pháp nhân cho phép đơn giản hóa pháp luật..
Thứ hai, việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật được ổn định lâu dài. Thời gian tồn tại của một pháp nhân thường dài hơn cuộc sống của một con người. Và hoạt động của pháp nhân có thể kéo dài, thậm chí rất dài. Pháp nhân không bị ảnh hưởng bởi những biến cố xảy ra đối với thành viên của nó.
Nếu đối chiếu bản chất của loại hình công ty hợp danh vào hai lợi ích được dẫn ra trên, thì có thể thấy sự không phù hợp cơ bản khi quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân.Đối chiếu với lợi ích thứ nhất, công ty hợp danh không cần đến tư cách pháp nhân để làm đơn giản hóa pháp luật. Bản chất của các quy định của công ty hợp danh là tôn trọng tính thỏa thuận giữa các thành viên hợp danh và các nguyên tắc về đại diện. Số lượng thành viên hợp danh trong công ty hợp danh rất ít. Đặc biệt, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, mô hình công ty hợp danh ở Việt Nam là mô hình đóng kín giữa những mối quan hệ có thể tin tưởng lẫn nhau. Một thành viên có quyền thay mặt cho các thành viên còn lại trong việc ký kết giao dịch với bên thứ ba mà không gặp trở ngại nào. Đối chiếu với lợi ích thứ hai, khác với các loại hình công ty cổ phần hay công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh trong trường hợp gặp sự cố đối với thành viên hợp danh thì có thể chấm dứt sự tồn tại của nó. Chẳng hạn, nếu công ty hợp danh chỉ có hai thành viên hợp danh mà một người đột ngột qua đời thì công ty hợp danh đứng trước nguy cơ giải thế rất cao nếu thành viên còn lại không tìm được người để tiếp tục hợp danh.
Tư cách pháp nhân của công ty hợp danh nhìn từ lợi ích của thành viên hợp danh. Xét từ góc độ lợi ích của thành viên hợp danh, thì sự tồn tại của tư cách pháp nhân của công ty hợp danh và chế độ chịu trách nhiệm vô hạn không mang lại lợi ích lớn. Ở hầu hết các nước, do việc xác định hợp danh là sự liên kết của hai hay nhiều người cùng hùn vốn, tạo tài sản chung, chia sẻ quyền điều hành, cùng chịu lỗ hưởng lãi nên pháp luật đề cao sự thỏa thuận, không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh. Với điều kiện như vậy, pháp luật nhiều nước không đánh thuế thu nhập đối với công ty hợp danh, từng thành viên chịu thuế với phần thu nhập cá nhân của riêng mình. Lợi ích của những cá nhân tham gia vào hợp danh thông thường là những cá nhân này sẽ không phải chịu thuế hai lần. Khác với loại hình hợp danh ở các nước khác, công ty hợp danh ở Việt Nam do có tư cách pháp nhân nên đương nhiên phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Khoản lợi nhuận sau thuế chia cho thành viên hợp danh có thể sẽ bị đánh thuế một lần nữa. Lợi ích của các thành viên rõ ràng là bị ảnh hưởng...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement