Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Sheehan
#685360

Download Tiểu luận Xác định cha, mẹ cho con trong và ngoài giá thú miễn phí





Con ngoài giá thú là con mà cha mẹ không phải là vợ chồng trước pháp luật, hay tuy cha mẹ ăn ở, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Bao gồm một số trường hợp sau:
- Người mẹ không có chồng mà sinh con;
- Người mẹ có chồng nhưng ngoại tình, có con với người khác;
- Hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng, trong thời gian sống chung giữa hai người có con chung với nhau, nhưng cha mẹ không có đăng kí kết hôn (kể cả trường hợp hai vợ chồng đã ly hôn của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, sau đó họ lại tái hợp cùng chung sống với nhau nhưng không đăng kí kết hôn lại theo thủ tục Luật định. Nếu người mẹ sinh con trong thời kì này con đó là con chung ngoài giá thú)
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

 Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng.
         2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.
Việc xác định cha, mẹ cho con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy định”.
Theo nguyên tắc suy đoán pháp lí này, mỗi khi sinh con người phụ nữ không cần chứng minh chồng mình là cha của đứa trẻ do mình sinh ra, cũng như không được ngăn cản chồng mình thực hiện quyền là cha của đứa trẻ do mình sinh ra. Người chồng đương nhiên được xác định là cha của đứa trẻ đó và được thực hiện quyền làm cha của mình. Pháp luật đã căn cứ vào thời kì hôn nhân của vợ chồng để suy đoán mối quan hệ cha mẹ và con. Khi nam nữ trở thành vợ chồng của nhau đều xuất phát từ yếu tố tình cảm; giữa họ phát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lí theo luật định như nghĩa vụ chung thuỷ, thương yêu quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau… Mặt khác, do tác động của nhiều yếu tố khác như điều kiện kinh tế, xã hội… có ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về tình yêu và hôn nhân gia đình nên không ít trường hợp người vợ có thai trước thời kì hôn nhân hay thậm chí sinh con trước thời kì hôn nhân thì đa số là do vợ chồng đã có quan hệ sinh lí trước thời kì hôn nhân nên pháp luật vẫn suy đoán là con chung của vợ chồng. Điều này đảm bảo quyền lợi không chỉ của đứa trẻ mà còn bảo vệ quyền của người vợ, người mẹ trong gia đình. Ngay cả trong trường hợp sau khi quan hệ hôn nhân đã chấm dứt mà người vợ sinh con trong một thời gian luật định (trong vòng 300 ngày kể từ khi chấm dứt quan hệ hôn nhân) thì pháp luật vẫn xác định là con chung của vợ chồng. Điều đó đảm bảo ổn định quan hệ cha mẹ và con đồng thời giúp cho người phụ nữ yên tâm thực hiện thiên chức của mình.
Thứ hai, việc xác định lại quan hệ cha, mẹ, con, tại Điều 63 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy định: “Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được toà án xác định”. Trong thực tiễn, khi người vợ sinh con, người chồng đã làm giấy khai sinh cho đứa trẻ, lấy họ tên mình là họ tên cha của đứa trẻ. Thậm chí, đứa trẻ đó về mặt sinh học không phải là con của người chồng nhưng về nguyên tắc trước tiên người chồng vẫn được xác định là cha, sự im lặng của người chồng được coi là sự mặc nhiên thừa nhận mối quan hệ cha con. Pháp luật không can thiệp sâu vào mối quan hệ này. Miễn rằng đứa trẻ được sống trong bầu không khí yêu thương và thông cảm, có cha, mẹ và người mẹ được chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn với chồng mình.
 Trong thực tế, có trường hợp vì nghi ngờ người vợ không chung thủy, đã có hành vi thông gian, ngoại tình với người khác; sau khi người vợ sinh con, người chồng đã không “thừa nhận” đứa trẻ đó là con của mình. Về nguyên tắc, người chồng phải có nghĩa vụ chứng minh đứa trẻ do vợ mình sinh ra không phải là con của người chồng. Việc chứng minh của người chồng dựa trên sự thừa nhận của người vợ là đã “có thai” với người khác từ trước khi kết hôn hay người chồng chứng minh đã đi công tác “xa vắng” trong thời kỳ người vợ có khả năng thụ thai đứa con đó (theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986). Như vậy, trong trường hợp người chồng không thừa nhận con do người vợ sinh ra là con của mình, khi chứng minh, người chồng có quyền đưa ra bất kỳ chứng cứ nào chứng tỏ con đó không phải là con của mình (như trường hợp người chồng mắc bệnh vô sinh, bị bất lực hoàn toàn về sinh lý, không thể có khả năng có con; hay người chồng thực sự đi “công tác xa vắng”, không thể có “quan hệ vợ chồng” ở vào thời kỳ người vợ có khả năng thụ thai đứa con đó; hay có thể trưng cầu giám định về gen…). Nếu người chồng chỉ vì nghi ngờ, không chứng minh được thì Tòa án vẫn buộc họ phải nhận con do người vợ sinh ra là con chung của hai vợ chồng. Nếu người mẹ, không thừa nhận đứa trẻ là con của mình thì người mẹ cũng phải cung cấp chứng cứ để chứng minh. Vì trên thực tế có nhiều trường hợp do vô ý hay cố ý dẫn đến việc nhiều đứa trẻ bị lẫn lộn hay bị đánh tráo… Tuy nhiên, hiện nay trong các văn bản pháp luật có liên quan không có một hướng dẫn cụ thể nào về vấn đề này. Điều đó cũng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể.
c, Dựa trên nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con thì con chung của vợ chồng được xác định trong các trường hợp sau:
Con sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận: Khi con sinh ra, cha mẹ của đứa con đó chưa chính thức trở thành vợ chồng trước pháp luật nên đứa trẻ không thể được coi là con trong giá thú được, sau khi cha mẹ kết hôn và thừa nhận con thì đứa con sẽ trở thành con trong giá thú. Đây chính là quy định “mở” theo hướng công nhận người con sinh ra trong trường hợp này cũng là con chung trong điều kiện là cha mẹ kết hôn và tự nguyện thừa nhận đứa con là con chung. Sở dĩ luật hôn nhân và gia đình quy định như vậy cũng là do thực trạng xã hội hiên nay, nhiều đôi nam nữ đã chung sống với nhau như vợ chồng, hay có quan hệ sinh lý rồi sinh con, sau đó mới kết hôn. Vì thế Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã dự liệu thêm trường hợp sau đây để phù hợp với tình hình thực tế.
Con được thụ thai trước ngày đăng ký kết hôn và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân: Do pháp luật thực định không ấn định một thời gian mang thai tối thiểu bắt buộc kể từ ngày đăng kí kết hôn, mà chỉ quy định con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Do đó, bất kể ở thời điểm nào trong thời kỳ hôn nhân người vợ sinh con thì đứa trẻ đương nhiên được xác định là con chung của vợ chồng.
Con được thụ thai và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân: Theo quy định trên đây, thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại, được tính từ khi kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật (do người chồng chết hay vợ chồng ly hôn, tính từ khi phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật). Nếu người vợ sinh con trong thời kỳ hôn nhân này, về nguyên tắc, con đó được xác định là con chung của hai vợ chồng. Tức là người chồng của mẹ đứa trẻ được xác định là cha của đứa trẻ đó. Cũng theo khoản 1 Điều 63, được coi là “người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân” là kể từ khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật, nếu trong hạn 300 ngày (người vợ chưa kết hôn với người khác) mà sinh con thì con đó cũng được xác định là “con chung” của hai vợ chồng. Tức là người chồng của mẹ đứa trẻ đã chết, hay đã ly hôn sẽ được “suy đoán” là cha của đứa trẻ đó. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hay do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung trong giá thú của hai vợ chồng.
Con được thụ thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng sinh ra sau khi hôn nh...
Kết nối đề xuất:
Hanoi private tour
Advertisement
Advertisement