Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By hilly_cheryl22444
#684141

Download Tiểu luận Người thừa kế theo pháp luật không có quyền hưởng di sản miễn phí





BỐ CỤC
A. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ:
- Nêu vấn đề
- Nêu tầm quan trọng của việc nghiên cứu vấn đề
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. Các khái niệm cơ bản về thừa kế:
1. Khái niệm thừa kế:
2. Khái niệm “Người để lại di sản thừa kế”:
3. Khái niệm “Người thừa kế”:
4. Di sản thừa kế:
II. Những quy định về người thừa kế không được hưởng di sản:
1. Quy định về người thừa kế không được hưởng di sản trong pháp luật Việt Nam trước đây:
a, Trước năm 1945:
b, Sau Cách mạng tháng Tám 1945:
c, Trong giai đoạn tiếp theo kể từ năm 1959 đến năm 1981:
2. Quy định của BLDS Việt Nam hiện nay về người thừa kế không được hưởng di sản:
III. Liên hệ với thực tiễn:
1. Vụ án tranh chấp quyền thừa kế quyền sử dụng đất và nhà ở tại Trần Cao Vân – TP Đà Nẵng:
2. Vụ án về nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản:
IV. Nhận xét của bản thân về quy định của pháp luật hiện hành về người thừa kế không được hưởng di sản:
C. KẾT LUẬN VẤN ĐỀ:
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

điểm mở thừa kế; người đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế và sinh ra mà còn sống cũng là người thừa kế. Người thừa kế là pháp nhân, tổ chức thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005.
4. Di sản thừa kế:
Di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho những người còn sống.
Theo quy định tại Điều 634 BLDS năm 2005: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. So với Điều 637 BLDS năm 1995, quy định này đã lược bỏ phần: “quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế”. Việc lược bỏ này là rất hợp lý vì ở tại Điều 163 BLDS năm 2005 có quy định tài sản bao gồm cả “quyền tài sản” và trong quyền tài sản đã có cả quyền sử dụng đất.
Như vậy, di sản thừa kế chỉ bao gồm các thành phần tài sản xác định được từ khối tài sản riêng, phần tài sản chung của người đã chết trong khối tài sản chung với người khác, không bị hạn chế về phạm vi giá trị:
Tài sản riêng của người chết được xác định khi người đó còn sống, có quyền sở hữu tài sản của mình một cách độc lập và tự mình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản theo ý chí của riêng mình mà không bị ràng buộc vào ý chí của người khác và chỉ tuân theo pháp luật. Tài sản riêng của người chết là tài sản người đó tạo ra từ thu nhập hợp pháp (như tiền lương, tiền thưởng, tiền trúng xổ số…) trong trường hợp người đó chưa kết hôn, tài sản được tặng cho, thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng (như quần áo, xe may, ô tô…), nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn được dùng để sản xuất kinh doanh…, các quyền tài sản do người chết để lại (như quyền đòi nợ, quyền sở hữu, quyền sử dụng đất…).
Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác (phần vốn đóng góp trong việc tạo dựng tài sản sở hữu chung theo phần, phần họ được tặng cho, được thừa kế chung với người khác). Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất không phân chia thì phần tài sản của người chết tương đương với phần tài sản của người khác. Trường hợp nhiều người cùng góp góp vốn để sản xuất kinh doanh (đồng chủ sở hữu với một khối tài sản nhất định) thì nếu một đồng sở hữu chết, thì di sản thừa kế của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đóng góp trong khối tài sản chung. Trường hợp tài sản chung của vợ chồng khi có một người chết trước thì chia đôi, phần tài sản của người chết chia theo quy định pháp luật về thừa kế (Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình).
II. Những quy định về người thừa kế không được hưởng di sản:
1. Quy định về người thừa kế không được hưởng di sản trong pháp luật Việt Nam trước đây:
a, Trước năm 1945:
Trong pháp luật nước ta (lúc này là pháp luật của chế độ thực dân – phong kiến) cũng có những quy định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản của người quá cố (họ được gọi là người thừa kế bất đối xứng).
Chẳng hạn, Điều 313 Dân luật Bắc Kỳ và Điều 306 Dân luật Trung Kỳ đều dự liệu những trường hợp người thừa kế không có quyền hưởng di sản:
- Người đã bị người lập di chúc tuyên bố không xứng đáng được hưởng di sản của người lập di chúc.
- Người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản hay với danh nghĩa chính phạm hay đồng phạm hay tòng phạm.
- Người đã trưởng thành biết được hành vi cố ý giết người mà không tố giác với Tòa án, nhưng nếu kẻ sát nhân là cha, mẹ, anh, em, vợ, chồng hay thân thuộc gần với người thừa kế thì không bị coi là có lỗi vì đã không tố giác.
- Người có hành vi vu khống người để lại di sản hay vu khống ông, bà, cha, mẹ của người đó và người bị vu khống đã bị phạt trọng tội hay thường tội.
Cùng về vấn đề trên, theo án lệ ở miền Nam nước ta năm 1945 thì căn cứ vào từng vụ việc cụ thể mà quyết định tước quyền thừa kế của người vợ góa nếu:
Không để tang chồng
Sống thiếu đạo đức và đã công khai gây tai tiếng cho gia đình nhà chồng.
Đã có tình nhân hay đã lạm dụng quyền được hưởng di sản mà không có biên bản kê khai.
Người vợ góa bị coi là bất đối xứng không có quyền thừa kế, phần di sản đó sẽ do con hay cháu người đó hưởng.
b, Sau Cách mạng tháng Tám 1945:
Hệ thống pháp luật thuộc địa được thay thế bằng hệ thống pháp luật XHCN nhưng các dấu vết của luật cũ vẫn được bảo tồn. Theo Sắc lệnh ngày 10/10/1045 về tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật của chế độ mới của toàn cõi Việt Nam. Theo sắc lệnh này, ở nước ta trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 (là năm Tòa án nhân dân tối cao ban hành Chỉ thị số 772 – CT/TANDTC về việc đình chỉ áp dụng luật lệ của chế độ cũ) vẫn áp dụng những quy định của pháp luật thời thực dân, phong kiến qui định về thừa kế và chỉ loại bỏ những quy định trái với những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp năm 1946.
c, Trong giai đoạn tiếp theo kể từ năm 1959 đến năm 1981:
Trên thực tế ở nước ta mặc dù đã có một số Thông tư của ngành Tòa án hướng dẫn giải quyết tranh chấp về quyền thừa kế (chẳng hạn: Thông tư 594…) nhưng không có một nội dung nào về những người thừa kế không có quyền hưởng di sản. Thực trạng đó như một “lỗ hổng” của pháp luật thừa kế nước ta. Trên thực tế, các Tòa án đã không thể giải quyết thỏa đáng những tranh chấp về thừa kế liên quan đến người thừa kế có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến người để lại di sản hay người thừa kế khác do còn thiếu những quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề này.
- Cơ sở pháp lý để tước quyền thừa kế của một người chỉ bắt đầu được quy định tại thông tư số 81 hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế. Theo thông tư này, thì một người bị tước quyền thừa kế do đã bị kết án về một trong những hành vi sau đây:
+ Đã giết người để lại thừa kế hay đã đối xử quá quá tàn tệ với người đó.
+ Đã giết người thừa kế cung hành với mình để chiếm đoạt toàn bộ di sản hay nhằm làm tăng tỉ số phần trăm cho bản thân mình, thì không được thừa kế di sản của người đó.
Những hướng dẫn trên Thông tư số 81 mới chỉ dừng lại ở một số hành vi cụ thể mà chưa dự liệu được hết các trường hợp như: người thừa kế vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, hành hạ, ngược đãi người để lại di sản, hủy di chúc, giả mạo di chúc… Điểm hạn chế này đã được khắc phục ở Pháp lệnh thừa kế và hiện nay là Bộ luật dân sự.
* Pháp lệnh thừa kế (ban hành ngày 30/8/1990): Vấn đề người thừa kế không có quyền hưởng di sản được quy định tại Điều 7. Theo đó người thừa kế không có quyền hưởng di sản khi có một trong các hành vi sau:
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hay về hành vi ngược
Hình đại diện của thành viên
By tctuvan
Kết nối đề xuất:
Hanoi private tour
Advertisement
Advertisement