Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Connlaoi
#682567

Download Đề tài Một số giải pháp góp phần phụ đạo học sinh yếu phân môn học vần lớp 1 miễn phí





Theo cách dạy truyền thống các em đến trường chỉ nhận được lượng kiến thức duy nhất từ thầy cô. Những kết luận bài học đều do thầy cô cung cấp. Cách dạy học như thế tạo cho học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ động. Chính vì thế chưa hình thành khả năng tự học ở học sinh.
Do đó, muốn hình thành cho học sinh kĩ năng tự học thì tôi phải lựa chọn, phối hợp nhiều hình thức giảng dạy như: cá nhân, nhóm, cả lớp. Tôi luôn nghiên cứu bài dạy đề ra mục tiêu cho sát, rõ về kiến thức, kĩ năng, thái độ không chung chung quá nặng so với trình độ học sinh.
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

chính xác
Không đọc được viết được
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
Trước khi áp dụng
21
2
9,5%
2
9,5%
2
9,5%
1
4,8%
14
66,7%
Sau khi áp dụng
21
0
0%
1
4,8%
1
4,8%
0
0%
19
90,4%
Năm học: 2004 – 2005.
Năm học
2004-2005

số
Chưa đạt yêu cầu cơ bản
Đạt yêu cầu cơ bản trở lên
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Nhóm 4
Học sinh lơ là trong giờ học
Đọc được viết yếu
Phát âm viết chưa chính xác
Không đọc được viết được
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
Trước khi áp dụng
16
1
6,3
2
12,5
1
6,3
2
12,5
10
62,4
Từ 2 bảng số liệu trên ta thấy:
Năm học: 2003 – 2004 chỉ có 66,7% học sinh đạt yêu cầu cơ bản trở lên còn lại 33,3% chưa đạt yêu cầu cơ bản.
Sau khi áp dụng đề tài này, tui thấy các em có tiến bộ rõ rệt tăng 23,7%.
Đến năm học: 2004 – 2005 có 37,5% học sinh chưa đạt yêu cầu cơ bản còn lại 62,4% đạt yêu cầu cơ bản.
Qua hai năm, trước khi áp dụng đề tài này, các em chưa đạt yêu cầu cơ bản rất cao nhưng sau khi áp dụng đề tài số học sinh chưa đạt yêu cầu cơ bản có giảm rõ rệt.
Qua tìm hiểu thực tế ở lớp, ở gia đình các em cho thấy nguyên nhân dẫn đến hạn chế nêu trên là:
Đây là những năm đầu thực hiện chương trình thay sách giáo khoa mới nên giáo viên còn không ít lúng túng, chưa có nhiều kinh nghiệm; một phần do giáo viên chưa nắm thật vững những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của bài dạy, giảng dạy còn mang tính dàn trải, chưa theo dõi sát sao, xử lý chưa kịp thời những biểu hiện sa sút của học sinh. Khi phát hiện học sinh hỏng kiến thức giáo viên không dám mạnh dạn dừng bài dạy để giúp các em nắm lại kiến thức. Vì vậy các em không hiểu bài, dễ mặc cảm, chán nản, không có hứng thú trong học tập.
Đa số giáo viên khi đứng lớp có vận dụng đổi mới phương pháp nhưng chưa đạt hiệu quả cao vì giáo viên còn ảnh hưởng phần nào thói quen nói nhiều hay lặp lại câu trả lời của học sinh; nhận xét thay cho học sinh. Chính vì lẽ đó mà còn hạn chế khả năng phát triển của học sinh.
Tổ chức phụ đạo còn chung chung không có biện pháp cụ thể cho từng đối tượng học sinh nên chưa hạn chế tối đa số lượng học sinh yếu phân môn học vần.
Một số phụ huynh học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn; nhà xa hay thấy con mình học yếu còn tư tưởng: “ Năm nay học không nổi năm sau ở lại học lớp 1 cho cứng” Vì vậy họ không chịu khó dành thời gian đưa con đi học cũng như dạy con học ở nhà từ đó dần dần các em học yếu.
Đa số cha mẹ các em học sinh đều làm nghề nông ít có thời gian quan tâm đến việc học hành của con em mình. Bên cạnh đó một số phụ huynh chưa nắm được nội dung chương trình sách giáo khoa mới đặc biệt là phương pháp hướng dẫn các em học ở nhà.
Đa số nhà các em ở quá xa trường, đường đi lại khó khăn. Ngay từ đầu năm học hai bên đường đi đã bị xáng múc chuẩn bị làm lộ nên các em không thể tự đến trường được mà cha mẹ phải đưa đón các em hàng ngày. Một số gia đình thuộc diện nhà cùng kiệt cha mẹ lo đi làm mướn đôi khi không đưa đón các em được dẫn đến các em phải nghỉ học .
Lứa tuổi các em còn ham chơi hơn ham học, chưa hiểu được tầm quan trọng của việc học. Điều quan trọng hơn nữa một số em chưa qua lớp mẫu giáo nên muốn hòa nhập với các bạn của mình các em cũng phải cố gắng thật nhiều… Chỉ việc cầm phấn, bút chì, bảng con cũng mất không ít thời gian. Các em đang ở lứa tuổi hiếu động khả năng chú ý tập trung không lâu.
Bên cạnh đó còn một số em hay quên, mới dạy thì đọc được, viết được nhưng khi về nhà hay qua một hôm sau thì không nhớ hay nhớ lẫn lộn dẫn đến trình trạng đọc sai, viết sai.
Các em hay đọc vẹt, bắt chước rất tốt và nhanh. Các em có thể đọc lau làu hay nhìn tranh đọc nhưng chưa chắc các em nhớ được mặt chữ. Nếu giáo viên không phát hiện thì sau một thời gian các em sẽ hỏng kiến thức.
Còn một số học sinh học khá do bệnh nghỉ học vài ngày cũng mất kiến thức căn bản.
Một số em hay lơ là thiếu tập trung thường nhận dạng, phát âm lẫn lộn các âm, vần,… Có đặc điểm gần giống nhau về cách đọc, cách viết.
PHẦN 2: GIẢI PHÁP:
2.1 Giúp các em khắc phục, vượt qua những khó khăn trở ngại về mặt tâm lí khi mới vào lớp 1.
Sự chuyển tiếp từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi Mầm non sang hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh Tiểu học, làm cho các em gặp những khó khăn về mặt tâm lí. Khi đến tuổi đi học trẻ thường háo hức, chờ đợi, thích được làm “học sinh”, thích đến trường, đến lớp. Tuy nhiên tâm lí này chưa được bền vững khi gặp phải các khó khăn trong học tập, các em dễ chuyển sang chán học,…vv,…Vì vậy giúp các em khắc phục vượt qua các khó khăn trở ngại về tâm lí ở đầu lớp 1 sẽ tạo điều kiện cho các em vươn lên đạt kết quả trong học tập.
Để làm tốt điều đó, tui luôn gần gũi, chăm sóc uốn nắn các em, tạo cho các em cảm giác mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Vì lứa tuổi các em là hiếu động, khả năng tập trung chú ý chưa cao. Thật là một cực hình nếu các em phải ngồi im không nói, chẳng cựa quậy, cấm động đậy. Vì cái miệng lúc nào cũng huyên thuyên, cái tay khó mà để yên một chỗ, cái óc chẳng thể thiếu điều để suy nghĩ. Vì vậy, tui cần hướng chức năng động của các em vào hoạt động có mục đích để giờ học đạt hiệu quả.
Trong giảng dạy trước đây, chủ yếu tui đặt câu hỏi cho từng học sinh trả lời, không cho trả lời tập thể, hạn chế đồng thanh. Vì vậy một số em không được gọi thì không có việc để làm. Những em này không tập trung suy nghĩ, không khí lớp học không sôi nổi cho nên tui nghĩ phải làm sao cho các em vui mà học, chơi mà học, vừa học vừa chơi. Chơi là hình thức, vui là tính chất, học là mục đích cuối cùng. Muốn được như vậy thì hình thức cung cấp kiến thức, kĩ năng cho học sinh phải phong phú không chỉ khô khan: cô giảng trò nghe, cô hỏi trò trả lời mà cần tổ chức cho từng học sinh được tham gia hoạt động.
Cụ thể ở bài 55: Ôn tập các vần vừa học có kết thúc bằng âm n. Thay vì tui đặt câu hỏi cho học sinh nêu những vần đã học có âm cuối là n thì tui hình thành bảng ôn rồi cho học sinh luyện đọc. tui đã uyển chuyển biến cái mệnh lệnh khô khan ấy bằng trò chơi truyền điện: đầu tiên tui nêu một vần có âm cuối n rồi gọi một học sinh khác em này có nhiệm vụ nêu tiếp một vần khác có âm cuối là n nhưng không được trùng với vần trước và không được chậm quá 5 giây. Nếu xong em có quyền gọi bạn khác nêu. Cứ như thế cho đến lúc tui thấy đủ số vần thì dừng lại. Hình thức vui chơi này, tuy chỉ từng em nói nhưng vẫn gây được hào hứng và sôi nổi vì tất cả các em trong tư thế chuẩn bị đón nhận luồng điện truyền đến. Các em còn hứng thú vì đây không phải là lệnh của cô giáo mà là của bạn bè và bản thân các em được bạn gọi và sau đó em được gọi bạn.
Để khuyến khích các em mạnh dạn phát biểu ý kiến ngoài việc khen ngợi tuyên dương những ý đúng, ý sáng tạo, tui cũng không bát bỏ những ý kiến chưa hợp lí của các em một cách thô bạ...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement