Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Curney
#681718

Download Đề tài Một số biện pháp tạo hứng thú học tập môn vật lý bậc THCS miễn phí





1. Giáo viên khuyến khích và chấp nhận tính độc lập, sáng tạo của học sinh.
2. Giáo viên sử dụng nguyên gốc những cơ sở ban đầu với những thao tác, sự cộng tác và những hoạt động vật chất của học sinh.
3. Giáo viên sử dụng những thuật ngữ chuyên môn liên quan đến nhận thức như: phân loại, phân tích, dự đoán, xây dựng (tạo nên) khi xây dựng khung nhiệm vụ.
4. Giáo viên cho phép học sinh phản ứng lại với sự điều khiển bài học, xoay xở với những hoạch định bài học và bằng lòng thay đổi.
5. Giáo viên điều tra những hiểu biết, những quan niệm của học sinh và phân loại chúng.
6. Gáo viên khuyến khích học sinh đi tới những thoả thuận trong trao đổi giữa giáo viên và người học.
7.Giáo viên khuyến khích học sinh phát vấn, suy nghĩ nhiều để hỏi, sử dụng những câu hỏi mở, khuyến khích học sinh hỏi lẫn nhau.
8.Giáo viên tìm hiểu kĩ những tiềm ẩn trong những câu trả lời của học sinh.
9. Giáo viên chú ý tới những kinh nghiệm của học sinh trong đó có thể tiềm ẩn những mâu thuẫn với giả thiết và khuyến khích họ thể hiện.
10. Đứng trước những câu hỏi, giáo viên cho học sinh một thời gian để trả lời.
11. Giáo viên cung cấp thời gian cho học sinh xây dựng những mối quan hệ và phát biểu chúng bằng lời.
12. Giáo viên nuôi dưỡng những suy nghĩ có tính tò mò tự nhiên của học sinh trong quá trình học tập.
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu
Vật lý là môn khoa học tự nhiên, rất quan trọng trong thực tế, nó có ứng dụng vô cùng quan trọng trong các ngành kinh tế chủ chốt của các quốc gia, là cơ sở của các ngành công nghiệp như: chế tạo máy, điện, hạt nhân...
Thông qua giáo dục trong nhà trường để các em có sự hiểu biết ban đầu về khoa học, vai trò của môn vật lý là rất quan trọng, vì nó giúp các em lam quen với các kiến thức mới, mở rộng sự hiểu biết của mình, để giải thích một số hiện tượng xẩy ra trong thực tế từ đó hình thành niềm tin về môn học và tư duy học tốt các môn học khác. Nhưng trong thực tế hiện nay rất nhiều người vẫn còn coi môn vật lý chỉ là môn học phụ vì vậy các em chưa có ý thức về môn học này.
Do đó: tìm hiểu hứng thú học tập môn vật lý có vai trò vô cùng quan trọng nó giúp giáo viên thấy được quan niệm của học sinh về môn vật lý để từ đó điều chỉnh cách dạy, đồng thời có phương pháp tác động vào học sinh yêu môn học hơn.
II. Thực trạng của vấn đề
1. Thực trạng
Để khảo sát nghiên cứu tính hứng thú học tập môn vật lý THCS, tui đã tiến hành lập phiếu điều tra với 10 câu hỏi tại lớp 9A trường THCS Phúc Thịnh- Ngọc Lặc-Thanh Hoá, đây là lớp có học lực tốt nhất khối 9.
Sau khi thu thập số liệu, tui thu được kết quả sau:
1. Để xem học sinh có thích học môn vật lý không? tui đặt câu hỏi số 1. " Em có thích học môn Vật Lý không "
STT
Phương án
Số HS
Tỷ lệ %
A
Rất thích.
9
22,5
B
Không thích lắm.
29
72,5
C
Không thích.
2
5
- Qua bảng số liệu thu thập: Đối với môn vật lý thì tỷ lệ cao nhất là 72,5% ý kiến "không thích lắm", tiếp đến là "rất thích"22,5%. Điều này thể hiện quan điểm củ học sinh về môn vật lý là chưa thật cao. Nhưng cũng không phải là điều đáng ngại vì tỷ lệ "không thích" là 5%.
- Các em đã có sự thích thú với môn Vật Lý, nhưng chưa thật sự thích hẳn.
2. Để biết mức độ khó hay dễ của môn Vật Lý theo đánh giá của HS , thông qua câu hỏi 2: "Em thấy môn Vật Lý khó hay dễ so với các môn học khác" ?
STT
Phương án
Số HS
Tỷ lệ %
A
Rất khó.
1
2,5
B
Rất dễ.
0
0
C
Bình thường.
39
97,5
- Qua số liệu trên ta thấy rằng: Theo các em HS đánh giá thì môn Vật Lý không phải là quá khó với môn học khác, bởi tỷ lệ ý kiến "rất khó" chỉ có 2,5%, nhưng cũng không phải là môn học quá dễ 0%.
- Đây cũng là điều đúng và sát thực với mục tiêu giáo dục. Sự tiếp thu kiến thức Vật Lý của các em là khá: 97,5% ý kiến "bình thường".
3. Xem mức độ hiểu bài của HS khi giáo viên giảng bài, tui đặt câu hỏi số 3, kết quả thu được:
STT
Phương án
Số HS
Tỷ lệ %
A
Em hiểu tất cả các nội dung bài học.
13
32,5
B
Trên lớp em thấy khó hiểu, về nhà đọc thêm SGK thì em đã hiểu.
11
27,5
C
Em hiểu lý thuyết nhưng không áp dụng được vào bài tập.
15
37,5
D
Không hiểu gì cả.
1
2,5
- Với các mức độ ý kiến trên thì việc hiểu được tất cả các nội dung bài học là 32,5% khá ổn. Nhưng đối với một lớp được coi là học khá của trường thì tỷ lệ này còn khá khiêm tốn.
- Tỷ lệ 27,5% phương án B cho thấy trên lớp các em thấy khó hiểu nhưng về nhà đọc thêm SGK thì đã hiểu thêm. Điều này nói lên rằng các em đã có sự đầu tư tìm hiểu môn học, có sự tự giác tìm tòi kiến thức để hiểu .
- Nhưng điều đặc biệt quan tâm và đáng chú ý: 37,5% một tỷ lệ khá cao khi mà các em nhận định: Hiểu lý thuyết nhưng không áp dụng được vào bài tập Vật Lý. Đối với môn Vật Lý thì việc hiểu lý thuyết để làm bài tập vận dụng mới là điều quan trọng.
* Qua đây giáo viên giảng dạy nên lắng nghe học sinh và cần có những điều chỉnh phù hợp. Tuy tỷ lệ " không hiểu" là 2,5% nhưng cũng rất cần quan tâm.
4. Xem học sinh có chuẩn bị bài khi đến lớp? tui đặt câu hỏi 3, kết quả như sau:
STT
Phương án
Số HS
Tỷ lệ %
A
Chuẩn bị kỹ bài.
31
77,5
B
Thỉnh thoảng.
6
15
C
Không chuẩn bị bài.
0
0
D
Chỉ làm bài tập.
2
5
E
Chỉ học lý thuyết.
1
2,5
- Với kết quả thu thập 77,5% HS chuẩn bị kỹ bài trước khi đến lớp đối với môn vật lý. Điều này có nghĩa : Các em đã có ý thức tự giác, tự lực nghiên cứu, chuẩn bị bài ở nhà. Các em đã nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị bài, chuẩn bị kiến thức để có thể tiếp thu kiến thức mới tốt hơn, ôn và nhớ lại kiến thức đã học, phục vụ cho các đơn vị bài học tiếp theo.
* Giáo viên cần khuyến khích học sinh để học sinh tự giác trong học tập.
Và việc chặt chẽ trong kiểm tra bài cũ là điều cần thiết, nhưng không cần quá cứng nhắc; bởi tỷ lệ "thỉnh thoảng" chuẩn bị bài cũ là 15%. Có nghĩa nhưng em này bình thường tới lớp không chuẩn bị bài, hay là các em đã hiểu đủ bài học hay là chưa hiểu. Nếu hiểu đủ bài học nhưng không chuẩn bị bài thì ý thức của các em trong học tập là không cao, có thể các em chưa hiểu hết tầm quan trọng của việc chuẩn bị bài. Các ý kiến này có thể gây khó khăn cho giáo viên khi giảng bài.
* Giáo viên cần có những điều chỉnh phù hợp hơn để kích thích tính hứng thú, tự giác của học sinh.
- Khi đã chuẩn bị bài thì nên chuẩn bị song song cả lý thuyết và bài tập, bởi môn Vật Lý có nhiều vấn đề ứng dụng-bài tập.
- Tỷ lệ chỉ làm bài tập 5%, lý thuyết 2,5% là không lớn nhưng có thể gây chênh lệch trong tương quan giữa dạy và học.
5. Để xem xét mức độ đầu tư thời gian của các em cho môn Vật Lý, tui đặt câu hỏi 5, kết quả:
STT
Phương án
Số HS
Tỷ lệ %
A
Trong vòng 30 phút.
9
22,5
B
Từ 30-40 phút.
18
45
C
Từ 45-60 phút.
12
30
D
Từ 60 phút trở lên.
1
2,5
- Tỷ lệ chuẩn bị bài cho môn Vật Lý từ 30-45 phút là 45%, cao hơn các ý kiến khác. Đối chiếu với kết quả thu thập của câu hỏi 2 có tới 97,5% cho rằng môn Vật Lý "bình thường" so với các môn học khác cũng là hợp lý. Và so sánh với các đơn vị kiến thức của môn học như vậy là chấp nhận được.
- Tỷ lệ ý kiến phương án C là 30% càng thêm khẳng định các em đã có ý thức tự giác, đầu tư thời gian cho môn Vật Lý. Nhưng cũng chưa đủ để khẳng định các em có hứng thú cao với môn Vật lý.
6. khảo sát việc trao đổi học hỏi bạn bè của HS qua câu hỏi số 7. Kết quả:
STT
Phương án.
Số HS
Tỷ lệ %
A
Có.
25
62,5
B
Trao đổi thường xuyên.
13
32,5
C
Không trao đổi.
2
5
- Việc HS trao đổi kiến thức, học hỏi bạn bè là điều hết sức quan trọng, nó giúp cho các em có sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tạo tình đoàn kết, tương trợ nhau cả trong cuộc sống; bổ sung cho nhau để cung nhau tiến bộ.
- Các em đã có ý thức về điều này và có ý thức với môn học, vì tỷ lệ ý kiến A và B cao hơn cả.
7. Điều tra hứng thú, sáng tạo của học sinh khi gặp bài khó, câu hỏi khó, qua câu hỏi số 8 "khi gặp bài khó, câu hỏi khó em thường làm thế nào"?. Kết quả:
STT
Phương án.
Số HS
Tỷ lệ %
A
Em sẽ chờ giáo viên chữa bài trên lớp.
5
12,5
B
Em sẽ hỏi bạn bè cách giải.
14
35
C
Em đọc lại lý thuyết tự tìm cách giải.
21
52,5
- Tỷ lệ ý kiến "Đọc lại lý thuyết, tìm kiếm cách giải" và "hỏi bạn bè" chiếm ưu thế. điều này cho thấy các em có hứng thú, và rất thực...
Kết nối đề xuất:
Nơi này có anh English Lyrics
Synonym dictionary
Advertisement
Advertisement