Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By cafefifteen
#681356

Download Tiểu luận Một số vấn đề liên quan mật thiết đến các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kì trong chủ nghĩa tư bản miễn phí





“Cơn sóng “ khủng hoảng mỗi lần rút ra xa lại để lai những hậu quả to lớn của nó với nền sản xuất TBXH nói riêng và thế giới nói chung . Hậu quả luôn được nhắc đến đầu tiên có thể tận mắt nhìn thấy được và không thiếu trong bất cứ cuộc khủng hoảng nào ; đó là viêc phá hoại lực lượng sản xuất và làm rối loạn lĩnh vực lưu thông . Mỗi khi khủng hoảng kinh tế đi qua người ta lai đưa ra những con số thống kê kinh hoàng về sức tàn phá của nó . Khủng hoảng năm 1929-1933 là một ví dụ rõ nét mà mỗi lần nhắc lại người ta còn thấy sợ .: 13 vạn công ty phá sản , sản lượng thép sụt 76% , sản lượng sắt sụt 79,4% , sản lưọng ôtô sụt 80% . Trong khi nhân dân lao đông dang thiếu thốn , nghèo đói , bọn chủ tư bản đã phá huỷ một khối lượng lớn các các phương tiện sản xuất và hàng hoá tiêu dùng . Năm 1931 , ở Mĩ người ta đã phá huỷ những lò cao có thể sản xuất ra 1 triệu tấn thép trong một năm , đánh dắm 124 tàu biển ( trọng tải khoảng 1 triệu tấn ) , phá bỏ 1/4tổng diện tích trồng bông, giết và không sử dụng 6,4 triệu con lợn . Còn ở Braxin năm 1933: 22 triệu bao càphê bị liệng xuống biển và ở Xâylan gần 100 triệu kg chè bị đốt .VV ( Số liệu sách lịch sử 11 – NXB Giáo Dục )



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

LỜI NÓI ĐẦU
Khi sản xuất hàng hoá giản đơn CNTB ra đời với những ưu điểm vượt trội của nó đã thúc đẩy sản xuất , trao đổi và lưu thông hàng hoá .Vì vậy nó đã thúc đẩy nền sản xuất TBCN lên một mức mới cao hơn hẳn so với mức cũ .
Nhưng đi kèm với sự phát triển của cách sản xuất CNTB lại là những mặt trái không thể tránh khỏi. Một trong những vấn đề đó chính là những cuộc khủng hoảng kinh tế chu kì cứ 8 đến 12 năm lại diễn ra một lần.Với mục tiêu làm giàu,mong muốn chiếm đoạt giá trị thặng dư một cách vô hạn ,giai cấp tư bản đã tìm mọi cách vơ vét ,thoả mãn lòng tham vô đáy của mình.
Cuộc cạnh tranh hay là cuộc chiến thu lợi nhuận của các nhà tư bản đã vô hình dung đẩy nền kinh tế TBCN hay chính các nhà tư bản đến những hậu quả không thể tránh : khủng hoảng kinh tế chu kì .Với tốc độ phát triển nhanh của máy móc , của năng suất lao động , hiện nay khủng hoảng đã trở thành một mối nguy hại , một thứ bệnh dịch có khả năng lây lan và có thể bùng phát bất cứ lúc nào.
Với nhữnh kiến thức tiếp nhận trên lớp cùng với sự tìm hiểu thêm ở các tài liệu tham khảo ,sau đây em xin trình bày một số vấn đề liên quan mật thiết đến các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kì trong CNTB.Trong bài viết mặc dù đã nỗ lực hết sức mình nhưng không thể tránh được những sai sót nhất định , em mong có được sự góp ý và giúp đỡ của thầy cô giáo để bài viết dược tốt hơn. Em xin chân thành Thank các thầy cô giáo đã giúp em hoàn thành bài tiểu luận này.
PHẦN NỘI DUNG
Khủng hoảng kinh tế dưới CNTB là khủng hoảng sản xuất thừa (thừa so với sức mua eo hẹp của quần chúng lao động). Trong các cách sản xuất trước TBCN vẫn thường xảy ra những biến động trong đời sống kinh tế , những biến động đó thương do thiên tai, địch hoạ , dịch bệnh …Nhưng duy nhất ở phương thứ sản xuất CNTB lại có khủng hoảng thừa hay nói cách khác là khủng hoảng kinh tế thừa là hiện tượng riêng của CNTB . Nó giống như cái nhọt nổi lên bên ngoài báo hiệu cho những ung nhọt bên trong của CNTB . Cái nhọt đó là căn bệnh nan y đối với tất cả các nước CNTB , cứ 8 đến 12 năm như một ma lưc như một sức mạnh nào đó lại phát bệnh một lần .
Một trong những con bệnh đó là nước Anh , trong vòng 33 năm kể từ 1925 đến 1958 đã phải chịu 7 lần phát bệnh vào những năm :1825 – 1836,1890 –1900, 1907 – 1920, 1920 – 1929, 1929 – 1937, 1938 – 1949, 1957 –1958 … Mĩ dường như cũng không chịu “thua kém” : sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Mĩ đã rơi vào cuộc khủng hoảng lần thứ 9 với những hậu quả to lớn , sản xuất công nghiệp giảm 5,3%, GDP giảm 2,2% , thất nghiệp tăng 7,8%, lạm phát tăng 4,6%…
Nguyên nhân của căn bệnh khủng hoảng không ở đâu xa mà ngay trong lòng chính xã hội CNTB , ngay từ khi ra đời nó đã mang theo những mâu thuẫn đối kháng trong mình .Nguyên nhân trước hết có thể nhắc đến là mâu thuẫn giữa tính kế hoạch trong nội bộ từng xí nghiệp với tính vô chính phủ trong nền sản xuất hàng hoá. Trong các nền sản xuất khác tình trạng sản xuất vô chính phủ vẫn diễn ra .Nhưng không ở đâu hay bất cứ nền sản xuất nào tính vô chính phủ lại có thể gây ra những hậu quả to lớn như vậy. Các nhà TB vì mong muốn làm giàu, vì mong muốn những khoản lợi nhuận kếch xù mà đã liên tục thay đổi máy móc để nâng cao năng suất lao động .Bằng mọi cách nhà TB chỉ chạy theo sức hút đồng tiền bất chấp hậu quả .Họ tổ chức cho xí nghiệp mình sản xuất một cách thuận lợi nhất , tìm cho mình một món hàng đầu tư thu lợi nhuận cao nhất và như vậy khi tìm được những miếng mồi béo bở nhà TB sẵn sàng chuyển tư bản từ ngành nọ sang ngành kia. Nhưng cái miếng mồi ngon , miếng mồi chứa lợi nhuận siêu ngạch ấy đâu chỉ một nhà TB có thể nhìn thấy . Do vậy việc tất cả ồ ạt chuyển sang một nghành để kinh doanh ắt hẳn sẽ làm mất đi tỉ lệ ổn định giữa các ngành. Mà tái sản xuất TBXH muốn tiến hành một cách trôi chảy thì giữa các ngàng sản xuất xã hội phải có những tỉ lệ cân đối nhất định . Nhưng bây giờ sự cân bằng đã mất đi thì việc khủng hoảng là điều không thể tránh khỏi.
Điển hình cho lòng tham CNTB là cuộc khủng hoảng cuối những nâm 70 nền kinh tế các nước công nghiêp chủ yếu đã bùng nố khủng hoảng một loạt ngành có tính chất thế giới . Hầu hết ở các ngành sản xuất quan trọng của thế giới (hay nói cách khác đó là các nguồn hái ra tiền cua TB ) như luỵên kim ,đóng tàu , công nghiệp dệt ,…Chẳng hạn : trọng tải tàu hạ thuỷ của thế giới các nước công nghiệp chủ yếu vào thời kì khủng hoảng 1974-1975 là 34,4 triệu tấn , trong đó Nhật Bản là 17,7 triệu tấn .khối EEC là 8.1 triệu tấn , Mĩ là 8,6 triệu tấn . Ngành luyện thép cung có tình tranh tương tự . Sản lượng thép của cả thế giớ tư bản phát triển là 490,7 triệu tấn . Còn tình hình cụ thể của các nước như sau: Mý 140 triệu tấn , Khối EEC là 150 triệu tấn ,Nhật bản 119,3 triệu tấn .Các con số này vượt xa các nhu cầu về sắt thép của thế giới và là nguyên nhân gây nên cuộc khủng hoảng 1974-1975.
Nguyên nhân thứ 2 không thể không đề cập tới , đó chính là mâu thuẫn giữa khả năng sản xuất vô hạn của CNTB và nhu cầu có khả năng thanh toán của quần chúng Lao Động . Với mục đích đi lên để kiếm tiền , nhà TB đã giẫm đạp lên cuộc sống của người lao động – những người đã tạo ra của cải vật chất cho họ . Tích luỹ , mở rộng sản xuất , cải tiến kĩ thuật … tất cả đã ngày càng bần cùng hoá một cách tương đối quần chúng lao động , ngày càng tạo nên vực sâu ngăn cách về mức sống giữa giai cấp Tư sản và giai cấp Vô sản . Trong khi hàng hoá sản xuất ra với tốc độ chóng mặt thì sức mua của người lao động lại chỉ nhích lên từng tí ,từng tí một rất chậm chạp . Đó là điều tất yếu để xảy ra khủng hoảng : hàng hoá thì nhiều nhưng người tiêu dùng lại không đủ tiền mua hàng . Thừa hàng hoá - đó là hiện tượng khơi mào để khủng hoảng xảy ra: các xí nghiệp buộc phải hạ giá hàng ,chụi lỗ vốn và có khi là mất trắng . Từng bước , từng bước một như vậy sản xuất bị thu hẹp dần , các xí nghiệp đóng cửa , công nhân thất nghiệp…
Ví dụ cho viêc bần cùng hoà công nhân lao động là Nhật Bản , tuy là một trong những nước có tốc đọ tăng tiền lương thực tế cho công nhân nhanh nhất nhưng đến đầu những năm 1967 lương công nhân Nhât Bản vẫn còn ở mức rất thấp .Nếu lấy chỉ số tiền lương thực tế trong năm đó của công nhân Nhật Bản là 100 thì Mĩ là 371, Tây Đức là 179, Anh là 178. Một tiêu chí khác để nói lên tình trạng tiền lương thấp của công nhân Nhật Bản là tỉ lệ tiền lương so với giá trị gia tăng của Nhật Bản thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển khác , năm 1971 nó chỉ đạt 34,6% so với 43,8 của Italia ,45,8% của Mĩ ,52% của Canađa và 53,4 %của Anh . (số liệu theo “Niên gián thống kê lao động tiền lương ” của tổ chức tiền lương Liên Hợp Quốc )
Còn ở Mĩ thì với việc tăng năng suất liên tục , hàng hoá cũng nối đuôi nhau ra đời thì người lao động lại liên tục đối đầu với nạn thất nghiệp . Từ năm 1963 tỉ ...
Kết nối đề xuất:
Nơi này có anh English Lyrics
Synonym dictionary
Advertisement
Advertisement