Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By [email protected]
#681257

Download Tiểu luận Những thành tựu và hạn chế về văn hoá xã hội ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay miễn phí





Mục lục
A. Lời mở đầu 3
B. Nội dung 4
I. về đời sống vật chất: 4
1. Thành tựu 4
2. Hạn chế: 4
II. về văn hóa tinh thần. 5
1. Thành tựu 5
2. Hạn chế: 9
3. Thành tựu về hoạt động thể dục thể thao: 11
III. Vấn đề dân số và việc làm 12
1. Số dân và sự gia tăng dân số 12
2. Nguồn lao động và việc sử dụng lao động, công tác xoá đói giảm nghèo 14
3. Hạn chế: 18
IV. về giáo dục 19
1. Giai Đoạn 1986-1995 19
a. Những Thành Tựu Đã Đạt Được: 19
b. Những hạn chế 24
2. Giai Đoạn 1996-2003 26
a. Quy mô phát triển và chất lượng giáo dục 27
b. Các điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục 29
c. Tình hình thực hiện một số chính sách, chủ trương. 30
V. Y tế, chăm lo sức khoẻ cho nhân dân 33
1. Thành tựu 33
2. Hạn chế: 34
VI. Công tác giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội 35
1. Thành tựu. 35
2. Hạn chế 38
VII. về công tác phong, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí. 39
1. Thành tựu 39
2. Hạn chế 39
Tài liệu tham khảo 41
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

n nước ta nhiều lần. Tuổi thọ trung bình tăng từ 66 tuổi năm 1989 lên 68 tuổi (1999), và 69 tuổi (2003). Tỉ lệ sinh giảm 0,8% trong khi kế hoạch đặt ra là 0,6%. Tỷ lệ tăng dân số từ 2% đầu thập niên 90 xuống còn 1,32% và năm 2002.
Từ năm 1996 đến nay, có hàng nghìn tỷ đồng của nhà nước và nhân dân tham gia nhằm giải quyết việc làm. Tỉ lệ thất nghiệp giảm từ 9- 10% (1990) xuống còn 6,5% (2000). Trong ba băm từ 2001 đến 2003, đã giải quyết việc làm cho 4,3 triệu người, trong đó nông nghiệp 2,6 triệu lao động, công nghiệp 90 vạn lao động và dịch vụ khoảng 76 vạn lao động.
Năm 2004 đã tạo việc làm mới cho 1,5 triệu lao động đạt 103% kế hoạch đề ra (riêng quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm đã giải quyết cho 3,5 vạn lao động. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng khá so với các nươcù cùng kiệt và đang phát triển. Theo báo các về phát triển của Liên Hiệp Quốc: năm 1997 HDI của Việt Nam là 0,557 xếp thứ 121/174 nước điều tra, năm 1999 là 0,662 xếp thứ 110 năm 2000 xếp thứ 108/174 và năm 2001 xếp thứ 109 trong tổng số 175 nước điều tra, năm 2003 xếp thứ 101/174 nước điều tra.
Với mức tăng trưởng kinh tế của năm tăng 6,9%, năm 2002 tăng 7,04% và năm 2003 tăng 7,24%, năm 2004 tăng 7,6% và hầu hết các chỉ tiêu xã hội đều đạt và vượt kế hoạch, cũng còn dễ nhận thấy một điều nữa là Việt Nam luôn kết hợp tang trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển mọi mặt của đất nước.
Nguồn lao động có xu hướng chuyển sang hoạt động trong các nghành công nghiệp và dịch vụ; và từ khu vực kinh tế nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Việc làm đang là một vấn đề kinh tế xã hội ở nước ta đặc biệt là khu vực thành phố. Năm 1989 gần 1,8 triệu lao động không có việc làm, tỷ lệ không có việc làm của cả nước là 5,8%, khu vực thành thị là 13,2%, nông thôn là 4,0%. Theo điều tra mức sống ở các khu dân cư năm 1992- 1993 tỷ lệ chưa có việc làm trung bình của cả nước là 7,4%, và có sự chênh lệch giữa các vùng. Tỷ lệ thiếu việc làm (hoạt động kinh tế không thường xuyên) ở nông thôn là 46,4%, còn ở thành thị là 6,7%.Vấn đề nổi cộm lên là việc sử dụng lao động nữ và lao động không có chuyên môn kĩ thuật
Như vậy ta thấy rằng bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực dân số và việc làm vẫn tồn tại những khó khăn và thách thức rất lớn trong đó nổi cộm lên là vấn đề phân bố lại dân cư và lao động giữa các vùng để sử dụng hợp lí hơn nguồn lực phát triển kinh tế xã hội của từng vùng, cũng như từng địa phương trong cả nước
Trước tình hình đó nhà nước ta một mặt có chính sách đầu tư để tạo thêm việc làm, mặt khác khuyến khích nhân dân tự tạo thêm việc làm. Nhà nước có ‘chương trình xúc tiến việc làm quốc gia” cho các địa phương các tổ chức quần chúng vay vốn để mở các dự án nhỏ đồng thời có các hình thức đào tạo nghề cho người lao động.
Ơû thành thị việc mở rộng nghành nghề với các thành phần kinh tế khác nhau, đang mở ra phương hướng tạo thêm việc làm cho người lao động. Nhờ có được sự thu hút của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có thêm những khả năng tạo việc làm ở các thành phố và những việc làm có thu nhập cao và ổn định.
Hạn chế:
Mặc dù mức phát triển dân số 15 năm trở lại đây đã giảm đi đáng kể nhưng mỗi năm dân số vẫn tăng lên khoảng 1,2 triệu người. kết quả đạt được vẫn thấp hơn so với yêu cầu. Năm 1996 dân số nước ta là 76,2 triệu người, nếu cứ theo tốc độ gia tăng như hiện nay là 25%/năm và bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 3,7 con thì khoảng 35 năm nữa dân số sẽ tăng lên gấp đôi.
Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh còn là nhân tố quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế xã hội, gây khó khăn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế cho việc phát triển về các mặt trí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi.
Việc giảm tỷ suất sinh ở nông thôn cũng chưa vững chắc. Ơû nông thôn vẫn tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa nhận thức về sức ép dân số và hành vi sinh đẻ trên thực tế, và dường như nó còn có giằng co giữa các yếu tố truyền thống trước các yếu tố về kinh tế và tác động của hoạt động dân số.
Tây nguyên và Tây Bắc có mức sinh cao nhất nước, tổng tỷ suất sinh cũng khá cao ở duyên hải Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, những vùng này thường có mức sống thấp; cái vòng luẩn quẩn của quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế xã hội càng làm nhấn mạnh thêm tính cấp bách của việc thực hiện công tác dân số kế hoạch hoá gia đình ở đây.
Dân số nước ta là dân số trẻ đặt ra những yêu cầu cấp bách về văn hoá, giáo dục, y tế, giải quyết việc làm cho số công dân tương lai này. Hiện nay vấn đề nguồn nhân lực đang rất gay gắt ở các tỉnh miền núi và trung du và vùng các dân tộc ít người, nhất là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Việt Nam là một nước đang phát triển, năng suất lao động xã hội còn thấp nhưng tỉ lệ dân số sống phụ thuộc quá cao khoảng 64,7% (trong đó trẻ em khoảng 55,2%, người già khoảng 9,5% theo số liệu thống kê năm 1999) đã đè nặng lên vai người lao động mặt khác làm cho phần lớn trẻ em sớm bước vào tuổi lao động, ảnh hưởng lâu dài đến việc phát triển nguồn nhân lực.
Mặt khác dân số nước ta phân bố không đều gây kho khăn cho công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, cũng như là đào tạo giải quyết việc làm cho người lao động và hàng loạt các vấn đề xã hôi khác như: nhà cửa, y tế, điện, đường, trường, trạm, an ninh quốc phòng…
về giáo dục
1975-1985 nền kinh tế nước ta theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Những nhược điểm của cơ chế này đã trở thành sức cản lớn đối với nền kinh tế, xã hôi sâu sắc. Đời sống kinh tế của nhân dân chật vật với chế độ tem phiếu, bao cấp… chính vì thế mà sự đầu tư cho giáo dục thời kì này bị hạn chế, hệ thống nhà trường được xây dựng trước đó giờ đây đã xuống cấp. Bên cạnh đó kỉ cương nề nếp trong trường học không được củng cố, chất lượng giáo dục vì thế cũng không đạt kết quả như mong muốn.
Đại hội VI của ĐCSVN tháng 12 -1986 đã mở dầu cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Công cuộc đổi mới toàn diên đất nước cũng đã mở ra cho ngành giáo duc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới hứa hẹn những thay đổi, tạo nên một bước tiến dài với những thành tựu lớn của ngành.
Giai Đoạn 1986-1995
Những Thành Tựu Đã Đạt Được:
Về ngành học:
Giáo dục mầm non:
Mẫu giáo và nhà trẻ đã trở thành một khối thống nhất, có tác dụng hỗ trợ nhau về mặt chăm sóc, nuôi dạy trẻ. Chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ có những chuyển biến tích cực nhất là về nội dung và phương pháp.
Về công tác nuôi dưỡng: tính từ 1993-1994 công tác phòng chống suy dinh dưỡng đã được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Các địa phương đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn. Bên cạnh đó thực hiện công tác vận động phụ huynh tăng mức dóng góp, triển khai rộng rãi hệ thống VAC trong nhà trẻ, mẫu giáo. Có chế độ chăm ...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement