Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By ngocanh18_02
#680800

Download Tiểu luận Đôi nét về tranh Đông Hồ miễn phí





Đôi khi những bức tranh Đông Hồ còn được những nghệ nhân trang trí kèm theo những từ chỉ dẫn hay những tứ thơ tình tứ, lãng mạn, cứ bóc tách từng lớp nang văn hoá hiện trên mỗi bức tranh Đông Hồ cũng đủ cho chúng ta thấy vốn liếng văn hoá Việt thuần khiết và trong sáng, đa dạng và vô cùng độc đáo. Các nghệ nhân Đông Hồ đã chuyển hóa những lời hay - ý đẹp, những kinh nghiệm đúc rút trong cuộc sống từ ngàn đời để lại vào tranh dân gian với những cách thể hiện rất riêng.
Những ai đã yêu thích tranh Đông Hồ hẳn rất quen thuộc với các tranh gà: Gà mẹ con, gà đại cát, gà dạ xướng, kê cúc. Chẳng hạn bức "Gà thủ hùng".
Theo sử sách xưa kể lại, vào khoảng năm 1915 cụ Chánh Hoàn gả con gái cho một anh Phán, Cụ Đám Giác ( tên thật là Nguyễn Thể Thức (1882 - 1943) là một nghệ nhân sáng tác nổi tiếng của Đông Hồ. Ngoài tranh về cuộc sống ở nông thôn cụ còn vẽ nhiều tranh truyện tranh phong cảnh, tranh tố nữ.) đã mừng đám cưới bằng một mẫu tranh mới: một gia đình gà gồm gà trống, gà mái và đàn con.
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

T
ranh dân gian Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ các nét văn hóa cổ xưa của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú và đa dạng. Nhắc tới tranh dân gian Việt Nam không thể không nói tới dòng tranh Đông Hồ, hay còn gọi là tranh khắc gỗ Đông Hồ. Đây là một dòng tranh dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Dòng tranh này ra đời từ khoảng thế kỷ 16 và phát triển cho đến nửa đầu thế kỷ 20 sau đó suy tàn dần. Trong các dòng tranh dân gian Tranh Đông Hồ khá gần gũi với đại đa số dân chúng Việt Nam, nhắc tới hầu như ai cũng đều biết. Tranh gần gũi vì nó gắn liền với làng quê, ngõ xóm, với cuộc sống lao động của người dân bình dị, chất phát và hình ảnh của nó đã đi vào thơ, văn. Tranh Đông Hồ còn mang trong mình những nét tinh túy riêng với những giá trị văn hóa to lớn. Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới. Thơ Tú Xương về tranh Đông Hồ ngày Tết có câu:
“Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om sòm trên vách bức tranh gà”
Trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” của nhà thơ Hoàng Cầm nhắc đến đầy tự hào và kiêu hãnh về tranh Đông Hồ như một đặc sản nghệ thuật của vùng quê Kinh Bắc.
“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”
Không phải tự nhiên mà nhà thơ miêu tả như vậy. Cái làm nên nét đặc sắc độc đáo của tranh Đông Hồ chính là ở chất liệu làm tranh, được chế biến thủ công từ các nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên: Giấy in tranh Đông Hồ được làm từ cây dó phủ lên một lớp phấn điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hay gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn – hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hay bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông để quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo chiều đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lắp lánh những mảnh điệp dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào trong quá trình làm giấy điệp; Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như: Màu hồng lấy từ gạch non. Màu đỏ lấy từ sỏi son, vỏ gỗ cây vang. Màu vàng từ hoa điệp vàng, hoa hòe, hoa vành vành. Màu đen từ lá tre đốt, than rơm đốt. Màu trắng được nghiền từ vỏ sò, ốc. Màu xanh vỏ lá cây chàm, từ gỉ đồng… Trên cơ sở những màu sắc cơ bản ấy người dân đã tạo thêm nhiều màu sắc khác nhau từ việc trộn lẫn các màu. Tuy nhiên, thông thường tranh Đông Hồ chỉ sử dụng tối đa 5 màu. Để hoàn thành một sản phẩm, không kể khâu khắc tranh trên bản gỗ, có sẵn giấy và màu, người làm tranh phải rất công phu, cẩn thận trong từng giai đoạn: sơn hồ lên giấy, phơi giấy cho khô hồ, quết điệp rồi lại phơi giấy cho khô lớp điệp, khi in tranh phải in từng màu lần lượt, nếu có 5 màu thì 5 lần in, mỗi lần in là một lần phơi… Cứ thế, dưới ánh sáng mặt trời lấp lánh từng hình ảnh, đường nét của cảnh sắc thiên nhiên, nếp sinh hoạt của người dân, những hình ảnh của cuộc sống thường ngày ... như “bừng” sáng trên giấy dó. Mọi giai đoạn đều thật công phu nên đòi hỏi người làm tranh luôn cẩn trọng, cầu kì, chú ý đến từng chi tiết nhỏ để có được một bức tranh đẹp.
Tranh Đông Hồ - Đấu Vật
Nguồn: www. vi.wikipedia.org
Ngoài ra tranh được in rất công phu, in hoàn toàn bằng tay với các bản màu; mỗi màu dùng một bản, và bản nét (màu đen) in sao cùng. Nhờ cách in này, tranh được sản xuất với số lượng lớn và không đồi hỏi kỷ năng cầu kỳ nhiều. Tuy nhiên, vì in trên ván gỗ một cách thủ công nên tranh bị hạn chế về kích thướt, thông thường các tờ tranh không lớn qua 50 cm mỗi chiều. Vào thế kỷ 16 tranh Đông Hồ xuất hiện nhưng không ai thống kê hết có bao nhiêu mẫu tranh mà chỉ biết gồm có 5 loại là: Tranh thờ: bộ ngũ sắc; Tranh lịch sử: Hai Bà Trưng, Bà Triệu,…; Truyện tranh: Thánh Gióng, Truyện Kiều, Thạch Sanh…; Tranh chúc tụng: Vinh hoa – Phú quý, Nghi xuân, Gà đàn…; Tranh sinh hoạt: Đánh Ghen, Chăn Trâu Thổi Sáo, Nhà Nông, Đám Cưới Chuột…Với các bức tranh có phần chữ Hán đi kèm thì thì ý nghĩa sáng tỏ hơn bao giờ hết. Ví dụ như tranh Nhân nghĩa vẽ hình em bé ôm con Cóc có chú thích chữ “nhân nghĩa” ấy chính là lời cầu chúc cho các cháu bé được tặng tranh có được cái Nhân, cái Nghĩa như con Cóc trong truyện cổ: mình mẩy tuy có thể xấu xí, bé nhỏ song dám lên kiện cả ông trời để đòi mưa cho dân làng. Chính vì vậy tranh vẽ hình em bé ôm con Cóc một cách trìu mến. Không có sự giải thích nội dung tranh trở nên khó hiểu vì ai mà bồng bế một con cóc bao giờ. Các tranh khác, đặt biệt là tranh sinh hoạt thì có nhiều cách giải thích hơn, cho tới nay có những cách phân thích khác nhau hoàn toàn (ví như tranh Đánh ghen).
Tranh Đông Hồ - Nhân Nghĩa
Nguồn: www. vi.wikipedia.org
Tranh Đông Hồ có đặc điểm thường là những hình ảnh sung túc như Đám cưới chuột, cảnh trai gái cùng nhau hái dừa, cánh cá chép nhiều màu vẩy đuôi…thể hiện mong muốn về sự sung túc.
Từ cuối thế kỷ XIX đến 1944 là thời kì cực thịnh của làng tranh. Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì tất cả đều làm tranh. Đến hẹn lại lên, cứ khoảng tháng 7, tháng 8 hàng năm là cả làng đã tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp….Không khí trong làng rộn ràng từ sáng đến tối suốt mấy tháng liền như thế.
Mỗi năm, chợ tranh chỉ nhộn nhịp và tấp nập nhất vào tháng Chạp, họp 5 phiên vào các ngày 6, 11,16, 21 và 26. Bà con, du khách thập phương đổ về mua tranh đông vui, tấp nập. Hàng nghìn, hàng triệu bức tranh các loại được mang  ra xếp gọn lại bán cho những lái buôn, hay bán lẻ cho các gia đình mua về làm tranh treo tết để mang phú quý, vinh hoa cho nhà mình. Sau phiên chợ tranh cuối cùng (26/12 âm lịch) những gia đình nào còn lại tranh đều bọc kín đem cất đi chờ đến mùa tranh năm sau lại mang ra chợ tranh bán. Đến chợ tranh làng Hồ không chỉ có khách buôn và mua tranh, mà có cả những người hâm mộ nghệ thuật tranh dân gian thích thăm thú, xem tranh và đi trảy hội mùa xuân.
Tranh Đông Hồ - Đám Cưới Chuột
Nguồn: www.thuvienkhoahoc.com
Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ con người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài cũng bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã giải thích về ý nghĩa của việc dùng màu sắc sao cho phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ cho tranh đánh ghen để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt của không khí lúc đó, nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên c
Kết nối đề xuất:
Thành ngữ tiếng Anh có chứa die
Advertisement
Advertisement