Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do Ketnooi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên Ketnooi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By korea_co_don_mot_minh_anh
#679756 Download Tiểu luận Tính sáng tạo trong triết học Mác miễn phí



MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
I. NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ CỦA SỰ RA ĐỜI TRIẾT HỌC MÁC 3
1. Điều kiện kinh tế - xã hội 3
2. Nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mác 4
2.1 Nguồn gốc lý luận triết học Mác 4
2.2 Những thành tựu của khoa học tự nhiên 6
II. TÍNH SÁNG TẠO CỦA TRIẾT HỌC MÁC 7
1. So sánh triết học trước Mác và triết học Mác 7
2. Tính sáng tạo của triết học Mác 9
2.1 Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng 9
2.2 Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử - Phát kiến vĩ đại của C.Mác 10
2.3 Sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học, lý luận và thực tiễn 11
3. V.I.Lênin phát triển triết học Mác 13
III. TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN TRONG ĐIỀU KIỆN THẾ GIỚI NGÀY NAY 16
KẾT LUẬN 21

2. Nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mác
2.1 Nguồn gốc lý luận triết học Mác
Triết học Mác ra đời dựa vào nguồn gốc lý luận và những tiền đề khoa học tự nhiên sau đây:
Một là: triết học cổ điển Đức, đặc biệt là hai nhà triết học tiêu biểu là Hêghen và Phoiơbắc là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học Mác.
C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao tư tưởng biện chứng của triết học Hêghen. C.Mác cho rằng tính chất thần bí mà biện chứng đã mắc phải ở triết học Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy. Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất; chỉ cần dựng nó lại sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó sau lớp vỏ thần bí.
Kế thừa những giá trị trong chủ nghĩa duy vật của Phiơbắc; đồng thời đã cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử của nó. Từ đó, Mác cùng với Ăngghen xây dựng học thuyết mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng, một hình thức mới, một giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa duy vật triết học.
Từ những giá trị của phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy vật của Phiơbắc, Mác và Ăngghen đã xây dựng lên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất với nhau một cách hữu cơ là chủ nghĩa duy vật biện chứng, một hình thức mới, một giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa duy vật triết học
Hai là: Trên cơ sở lý luận kinh tế học tư sản Anh, Mác đã tiếp thu, cải tạo và phát triển trên lập trường của giai cấp vô sản, chỉ ra những quy luật kinh tế cơ bản của CNTB. Hai đại biểu tiêu biểu của kinh tế học cổ điển Anh là Ricardo và A.Smith.
Smith đã phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi. Smith có một linh cảm nhạy bén và thiên tài. Ông cảm giác giá trị của hàng hoá trong CNTB có gì khác với giá trị hàng hóa trong sản xuất giản đơn. Nhưng chưa chỉ ra được khác như thế nào vì ông chưa biết đến phạm trù giá cả. Mác nói linh cảm của Smith còn nằm trong bóng tối, song vẫn là một linh cảm quý giá. Vì Mác đã ít nhiều sử dụng quan điểm lịch sử đó để xem xét các phạm trù kinh tế.
Ricardo là người đã đưa KTCT tư sản cổ điển lên đến đỉnh cao và chấm dứt luôn tại đó. Mác đánh giá Ricardo là tiền bố trực tiếp của mình. Thế giới quan của Ricardo duy vật, máy móc và tự phát. Với thế giới quan đó, Ricardo đã đưa ra quy luật phân phối trong CNTB lúc bấy giờ. Và cùng với phương pháp luận là sử dụng phương pháp trừu tượng hóa 1 cách thành thạo nhưng không triệt để. Do bị ảnh hưởng bởi thế giới quan tư sản và ông quan niệm những phạm trù kinh tế của tư bản là vĩnh viễn, đồng nhất với tư bản hiện vật.
Ba là: cải tạo một cách phê phán chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những đại biểu tiêu biểu là Xanh Ximông và S.Phurie, đưa CNXH không tưởng thành CNXH khoa học. Nhờ đó, triết học Mác trở thành vũ khí lý luận cải tạo xã hội bằng cách mạng.
Chủ nghĩa không tưởng đã có một quá trình phát triển gắn liền với những bước phát triển của chủ nghĩa tư bản và đã có một tác dụng tích cực nhất định. Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp đã đánh dấu một bước tiến trong lịch sử tư tưởng của loài người. Nó để lại cho chủ nghĩa Mác một di sản tư tưởng có giá trị, những điều tiên đoán quan trọng về đời sống xã hội và về sự phát triển của xã hội. Vì vậy, chủ nghĩa xã hội không tưởng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác thừa nhận là một trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác, là tiền đề tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản khoa học.
2.2 Những thành tựu của khoa học tự nhiên
Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng không thể thiếu được cho sự ra đời của triết học Mác. Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên làm bộc lộ rõ tính hạn chế, chật hẹp và những bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới; đồng thời cung cấp cơ sở tri thức khoa học để phát triển tư duy biện chứng, hình thành phép biện chứng duy vật.
Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên thời đó, Ăngghen nêu bật ý nghĩa của ba phát minh lớn đối với sự hình thành triết học duy vật biện chứng: định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tế bào và thuyết tiến hóa của Đacuyn. Với những phát minh lớn của khoa học tự nhiên đã làm cho quan niệm mới về tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản.
Như vậy, triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác đã ra đời như một tất yếu lịch sử. Không những vì nó là một sự phản ánh thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân mà còn là sự phát triển hợp logic của lịch sử tư tưởng nhân loại.

Như vậy, có thể thấy Triết học Mác-Lê nin có ứng dụng rất rộng rãi. Trong khuôn khổ bài thảo luận này Nhóm 5 xin được trình bày về áp dụng một trong nhứng sáng tạo của triết học Mác-Lênin ở Việt Nam. Đó là thống nhất giữa lý luận và thực tiễn xây dựng đất nước ở Việt Nam
Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, được coi là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân và được Hồ Chí Minh đưa vào Việt Nam.
Trước khi chủ nghĩa Mác-Lênin xuất hiện ở Việt Nam, những phong trào giải phóng dân tộc: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, của Hoàng Hoa Thám, các cuộc vận động của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học... đều thất bại; nhưng kể từ khi Hồ Chí Minh đem chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ.Việt Nam đã đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Chủ nghĩa Mác-Lênin được xem là kim chỉ nam trong mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam để đưa Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên không phải vận dụng dập khuôn chủ nghĩa Mác-Lênin. Ví dụ như chủ nghĩa Mác-Lênin đề cao vấn đề giai cấp, còn ở Hồ Chí Minh, vấn đề giai cấp gắn bó mật thiết với vấn đề dân tộc, không có giai cấp chung chung đứng ngoài dân tộc, hai cái đó liên hệ với nhau một cách uyển chuyển và biện chứng. Trong hoàn cảnh mất nước thì quyền lợi dân tộc được đặt lên trên quyền lợi giai cấp, vì có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp, tạo tiền đề, điều kiện thuận lợi để giải phóng giai cấp.
Biểu hiện của sự vận dụng sáng tạo Triết học Mác – Lênin đó là Đảng ta không áp dụng dập khuôn các tư tưởng của Mác- Lênin mà xây dựng những đường lối phát triển kinh tế phù hợp với thực tế:
Đại hội đảng lần thứ VI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những quan điểm, đường lối do Đại hội VI vạch ra là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của đất nước. Công cuộc đổi mới của Đảng từ sau Đại hội VI đến nay ở nước ta không nằm ngoài những quy luật phổ biến của phép biện chứng, Đảng ta đã vận dụng phép biện chứng vào nhận thức hiện thực xã hội, phân tích các mối liên hệ biện chứng của đời sống hiện thực, tìm ra các mâu thuẫn đó và tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình đổi mới vững chắc.
Trước đây, nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội với nhiều khó khăn phức tạp, gay gắt, lạm phát phi mã do tư duy lý luận bị lạc hậu, giữa lý luận và thực tiễn có khoảng cách xa. Tư duy cũ về chủ nghĩa xã hội theo mô hình tập trung quan liêu bao cấp đã cản trở sự phát triển của thực tiễn sản xuất. Bị chi phối bởi quy luật mâu thuẫn khách quan nên để giải quyết mâu thuẫn đó Đảng ta đã tiến hành đổi mới và cải cách kinh tế.
Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Kết nối đề xuất:
Đọc Truyện online