Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Rorey
#676491 Download Giáo trình Triết học Mac - Lenin miễn phí
• Chương 1: Vật chất và ý thức
• Chương 2: Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật
• Chương 3: Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật
• Chương 4: Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
• Chương 5: Lý luận nhận thức
• Chương 6: Hình thái kinh tế - xã hội
• Chương 7: Giai cấp và đấu tranh giai cấp. Giai cấp, dân tộc, nhân loại
• Chương 8: Nhà nước và cách mạng xã hội
• Chương 9: VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
• Chương 10: Ý THỨC XÃ HỘI

Chư¬ơng 1: VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1. Tồn tại của thế giới và sự thống nhất của thế giới
1.1. Tồn tại của thế giới là tiền đề của sự thống nhất của thế giới
Vấn đề “tồn tại” và “không tồn tại” đã được đặt ra ngay từ trong triết học cổ đại phương Đông và phương Tây. Trong việc nhận thức thế giới, vấn đề đầu tiên nảy sinh với tư duy triết học là: Thế giới quanh ta có thực hay chỉ là sản phẩm thuần túy của tư duy con người? Thế giới có tồn tại hay không? Và vấn đề mà nhận thức triết học phải đi tới là quan niệm về sự tồn tại của thế giới. Không thừa nhận sự tồn tại của thế giới thì không thể nói tới việc nhận thức thế giới.
Chủ nghĩa duy vật hiểu sự tồn tại của thế giới như một chỉnh thể mà bản chất của nó là vật chất. Còn các nhà duy tâm tìm nguồn gốc và bản chất của tồn tại ở cái tinh thần, cho rằng chỉ thế giới tinh thần mới là tồn tại. Hêghen coi bản chất của tồn tại là cái tinh thần vì giới tự nhiên cũng chỉ là tồn tại khác của “ý niệm tuyệt đối” mà thôi.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng sự tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của nó, song sự thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó. Sự khác nhau căn bản giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không phải ở việc thừa nhận hay không thừa nhận tính thống nhất của thế giới, mà ở chỗ chủ nghĩa duy vật cho rằng cơ sở của sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của nó. Quan điểm này thể hiện tính nhất nguyên duy vật triệt để, dựa trên sự tổng kết những thành tựu nhân loại đã đạt được trong hoạt động thực tiễn, trong triết học cũng như trong khoa học.
1.2. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Có 2 khuynh h¬ướng cơ bản về vấn đề này:
- Chủ nghĩa duy tâm coi tinh thần, ý thức có trư¬ớc, quyết định vật chất nên tính thống nhất của thế giới là ở ý thức, ở các lực lượng tinh thần siêu nhiên.
- Chủ nghĩa duy vật coi vật chất có trư¬ớc, ý thức có sau, ý thức là sự phản ánh của thế giới vật chất nên sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất. Bằng sự phát triển lâu dài của triết học và sự phát triển khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng chứng minh rằng thế giới xung quanh chúng ta dù đa dạng và phong phú đến đâu thì bản chất của nó vẫn là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Bởi vì:
Thứ nhất, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất, là thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người.
Thứ hai, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất.
Thứ ba, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra và không tự mất đi; chúng luôn biến đổi, chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau.
2. Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất
2.1. Định nghĩa phạm trù vật chất
Vật chất với tính cách là một phạm trù triết học ra đời trong triết học Hy Lạp cổ đại. Ngay từ đầu, xung quanh phạm trù này đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Như¬ng phạm trù vật chất đư¬ợc hiểu rất khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động nhận thức và thực tiễn trong từng thời kỳ lịch sử của nhân loại.
2.1.1. Quan điểm duy tâm
Coi thực thể của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể là “ý chí của Thượng đế”, là “ý niệm tuyệt đối” hay là do ý thức của chủ thể quyết định.
2.1.2. Quan niệm duy vật
Coi vật chất là thực thể, cơ sở đầu tiên, bất biến của tất cả các sự vật, hiện tư¬ợng tồn tại trong thế giới khách quan.
- Quan niệm duy vật cổ đại về vật chất mang tính trực quan, cảm tính, thể hiện ở sự đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của nó, tức là những sự vật cụ thể, coi đó là cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại như¬: Đất, nước, lửa, không khí, apâyrôn... Đỉnh cao trong quan niệm vật chất cổ đại là thuyết nguyên tử của Lơxip và Đêmôcrit, thừa nhận thực thể của thế giới là nguyên tử.
Mặc dù còn nhiều hạn chế, như¬ng thuyết nguyên tử cổ đại là một bước phát triển mới của chủ nghĩa duy vật trên con đ¬ường hình thành phạm trù vật chất, tạo cơ sở triết học cho nhận thức khoa học sau này. Tuy nhiên, đó mới chỉ là những phỏng đoán giả định.
- Từ cuối thế kỷ XVI và đặc biệt là trong thế kỷ XVII - XVIII: Việc coi nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được, tách rời vận động, không gian và thời gian vẫn là một quan niệm phổ biến. Chính Galilê, Đềcác, Bêcơn, Hôpxơ...đã khẳng định và phát triển quan niệm này.
- Sang thế kỷ XIX, các nhà triết học và khoa học tự nhiên do không hiểu phép biện chứng duy vật vẫn đồng nhất vật chất với nguyên tử, hay với một thuộc tính phổ biến của các vật thể là khối l¬ượng.
- Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, trong vật lý học hiện đại xuất hiện những phát minh quan trọng đem lại cho con ngư¬ời những hiểu biết mới, sâu sắc về cấu trúc của thế giới vật chất.
Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X
Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ.
Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử.
Năm 1901, Kaufman đã phát hiện ra rằng trong quá trình vận động, khối lượng của điện tử thay đổi khi vận tốc của nó thay đổi.
Những phát minh đó chứng minh rằng sự đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của vật chất, với những thuộc tính của vật chất như¬ quan niệm duy vật trư¬ớc Mác đã không còn phù hợp nữa và trở thành căn cứ để chủ nghĩa duy tâm lợi dụng chống lại chủ nghĩa duy vật. Họ cho rằng "vật chất đã tiêu tan", và toàn bộ nền tảng của chủ nghĩa duy vật đã bị sụp đổ hoàn toàn. Cuộc “khủng hoảng của vật lý học” xuất hiện.
Lênin đã phân tích tình hình phức tạp ấy và chỉ rõ: Những phát minh có giá trị to lớn của vật lý học cận đại không hề bác bỏ chủ nghĩa duy vật mà chỉ bác bỏ quan niệm cho rằng giới tự nhiên là có tận cùng về mặt cấu trúc, rằng nguyên tử hay khối lượng là giới hạn cuối cùng, bất biến của giới tự nhiên. Lênin đã chỉ ra rằng, không phải "vật chất tiêu tan" mất, mà chỉ có giới hạn hiểu biết của con ngư¬ời về vật chất là tiêu tan. Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc cuộc “khủng hoảng của vật lý học” và phê phán những quan niệm duy tâm, siêu hình về phạm trù vật chất, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất mà cho đến nay các khoa học hiện đại vẫn thừa nhận.
2.1.3. Định nghĩa vật chất của Lênin
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con ng¬ười trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".
- Theo Lênin, phạm trù vật chất là một phạm trù “rộng đến cùng cực, rộng nhất mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt qua được” nên không thể định nghĩa vật chất bằng phương pháp thông thường, đem quy nó về một vật thể, một thuộc tính hay vào một phạm trù rộng lớn hơn được. Vì vậy, Lênin đã sử dụng phương pháp mới để định nghĩa vật chất là đem đối lập vật chất với ý thức và xác định nó “ là cái mà khi tác động lên giác quan của chúng ta thì gây nên cảm giác”.
Trước tiên, cần phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các dạng vật chất. Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi.
- Trong định nghĩa, Lênin đã chỉ rõ khi vật chất đối lập với ý thức trong nhận thức luận thì cái quan trọng nhất để nhận biết nó chính là thuộc tính khách quan. "Vật chất là thực tại khách quan đ¬ược đem lại cho con ngư¬ời trong cảm giác.. .và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".
Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
1. Vật chất có trư¬ớc, ý thức có sau; vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức.
2. Vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức; cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hay gián tiếp tác động lên giác quan con người.
3. Cảm giác, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của vật chất. Ý thức con ngư¬ời là sự phản ánh thực tại khách quan, nghĩa là con ngư¬ời có khả năng nhận thức được thế giới.
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã bao quát cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trư¬ờng duy vật biện chứng, thừa nhận trong nhận thức luận thì vật chất là tính thứ nhất, và con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, khắc phục đư¬ợc tính chất siêu hình, trực quan trong các quan niệm về vật chất.
- Định nghĩa vật chất của Lênin còn chống lại các quan điểm duy tâm về vật chất, tạo cơ sở lý luận để khắc phục quan điểm duy tâm về đời sống xã hội
- Định nghĩa vật chất của Lênin còn có vai trò định h¬ướng cho sự phát triển của nhận thức khoa học.
2.2. Vật chất và vận động.
a. Vận động là gì?
Ăngghen viết:"Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức đ¬ược hiểu là một cách tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến t¬ư duy".
Theo quan điểm của triết học macxit, vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, là sự biến đổi nói chung.
b. Vận động là phư¬ơng thức tồn tại của vật chất.
Nghĩa là vật chất tồn tại bằng cách vận động, thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình. Không thể có vật chất mà không có vận động và ngược lại.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, vận động của vật chất là tự thân vận động; bởi vì tất cả các dạng vật chất đều là một kết cấu vật chất bao gồm các yếu tố, các mặt, các quá trình liên hệ, tác động qua lại với nhau. Chính sự tác động đó đã dẫn đến sự biến đổi nói chung, tức là vận động. Quan điểm này đối lập với quan điểm duy tâm, siêu hình về vận động đi tìm nguồn gốc của vận động ở thần linh hay ở chủ thể nhận thức.
Vận động là hình thức tồn tại của vật chất nên các dạng vật chất đư¬ợc nhận thức thông qua sự vận động của chúng.
Vận động là một thuộc tính cố hữu của vật chất nên nó không do ai sáng tạo ra và cũng không thể tiêu diệt đư¬ợc. Nguyên lý này đ¬ược chứng minh bằng định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lư¬ợng.
c. Các hình thức vận động cơ bản của vật chất.
Dựa vào thành tựu của khoa học tự nhiên và triết học, lần đầu tiên Ăngghen đã phân loại thành 5 hình thức vận động cơ bản của vật chất là:
- Vận động cơ học.
- Vận động vật lý.
- Vận động hoá học.
- Vận động sinh học.
- Vận động xã hội.
Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Hình đại diện của thành viên
By kimanhbk
Hình đại diện của thành viên
By tctuvan
#974530 link mới cập nhật, mời bạn xem lại bài đầu để tải nhé
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement