Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Cat
#674987

Download Đề án Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam vào thị trường EU miễn phí





Trên thị trường cà phê Việt Nam hiện có 150 doanh nghiệp thương mại hoạt động, nhưng chỉ có khoảng 20 doanh nghiệp thương mại cà phê đúng nghĩa và 8 nhà rang xay, chiếm 80% sản lượng. Có thể kể đến các tên tuổi lớn như:
- Tổng công ty cà phê Việt Nam (VINACAFE)
- Công ty cổ phần INTIMEX Việt Nam
- Tập đoàn Thái Hoà
- Công ty xuất nhập khẩu Simexco Đắk lắk
- Công ty cà phê Phước An Đắk lắk
- Công ty thương mại kỹ thuật & đầu tư PETEC
- Công ty đầu tư xuất nhập khẩu Đắk lắk
- Công ty xuất nhập khẩu Tín Nghĩa Đồng Nai
- Công ty cổ phần dịch vụ Phú Nhuận TP Hồ Chí Minh
- Công ty thực phẩm miền Bắc.
Trong đó VINACAFE là một Tổng công ty Nhà nước với 100% số vốn của Nhà nước và là hội viên lớn nhất của Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam. Đây là một doanh nghiệp lớn, có tới 70 công ty, xí nghiệp và nông trường. Hàng năm VINACAFE xuất khẩu một lượng lớn tới 20- 25% sản lượng cà phê của cả nước.
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

ng cà phê. Với việc nhận thức vị trí và vai trò của cây cà phê trong nền sản xuất nông nghiệp nước ta, Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cà phê như thực hiện sản xuất gắn với chế biến giúp cho Việt Nam từ nước sản xuất cà phê nhân xuất khẩu đã trở thành nước xuất khẩu với các mặt hàng cà phê rang xay, cà phê hoà tan. Tuy nhiên lượng cà phê rang xay và hoà tan này còn rất ít chiếm khoảng 10% sản lượng.
- Để đạt được kết quả như trên Việt Nam đã biết áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và thâm canh cà phê: bộ giống tốt được áp dụng vào sản xuất như các dòng cà phê vối chọn lọc có năng suất cao từ 3-6 tấn /héc ta, cỡ hạt to. Các giống cà phê chè có năng suất cao chất lượng tốt được trồng như TN1,TN2, TH1. Ngoài ra đã hình thành được một số vùng cà phê chè có năng suất chất lượng cao như ở Khe Xanh (Quảng Trị), A Lưới (Thừa Thiên Huế), Mai Sơn (Thuận Sơn, Sơn La).
- Sản xuất cà phê phát triển đã tạo ra công ăn việc làm cho người dân, góp phần nâng cao đời sống, thay đổi bộ mặt nông thôn đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc, thúc đẩy hình thành phát triển hệ thống dịch vụ.
- Sản xuất gắn với chế biến, hình thành hệ thống chế cà phê nhân và từng bước phát triển cà phê chế biến sản phẩm giá trị gia tăng như: cà phê rang xay, cà phê hoà tan, ngoài ra còn chế biến “sản phẩm có cà phê “ như: bánh kẹo cà phê, sữa cà phê, …
Những hạn chế trong sản xuất cà phê
- Diện tích cà phê tăng quá nhanh không theo quy hoạch, do giá cà phê xuất khẩu tăng cao cây cà phê là một cây nông nghiệp có thu nhập cao đã kích thích người trồng cà phê tìm mọi cách gia tăng sản lượng đẩy mạnh diện tích không theo quy hoạch, kế hoạch.
- Thâm canh quá mức, sản xuất cà phê thiếu tính bền vững. Cũng do giống cà phê xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao, nông dân quá chú trọng đến việc tăng năng suất và sản lượng đem lại hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích nên thúc đẩy người dân tăng phân bón trên mức cần thiết, khai thác và sử dụng nguồn nước để tưới cho cây cà phê một cách tự phát tạo nên những vườn cà phê phát triển không ổn định.
- Chất lượng cà phê xuất khẩu không cao: Trước hết là do những hạn chế, yếu kém trong khâu thu hoạch, thu mua, chế biến và bảo quản; các doanh nghiệp thu mua, chế biến xuất khẩu cạnh tranh lẫn nhau, thu mua xô không theo tiêu chuẩn, không phân loại thu mua theo chất lượng, không tạo điều kiện để nông dân thực hiện đúng quy trình sản xuất, thu hái, thiết bị chế biến không đồng bộ, thường dùng phương pháp chế biến thủ công. Mặc dù Nhà nước đã ban hành đầy đủ bộ tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật về trồng trọt, chế biến, chất lượng cà phê nhưng chưa được nông dân và doanh nghiệp áp dụng có hiệu quả và đầy đủ.
- Hệ thống sân phơi, chế biến, bảo quản còn thiếu so với yêu cầu nên chất lượng cà phê chưa đồng đều và ổn định, nhất là vào những năm khi vụ thu hoạch cà phê bị mưa kéo dài. Cà phê bị lên men, mốc, ảnh hưởng đến giá và hình ảnh của cà phê Việt Nam nói chung.
2.1.2. Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Ngày nay, ở một số nước người ta coi việc uống cà phê như một thức uống phổ thông, nhất là ở các nước phát triển. Nhu cầu về cà phê của thế giới ngày càng tăng. Đó là thuận lợi cho Việt Nam, nơi mà cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực.
Sản lượng, kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam
Bảng 2.3. Khối lượng, kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam từ 2006 -2010
Năm
Khối lượng (tấn)
Kim ngạch (1000USD)
Đơn giá bình quân(USD/tấn)
2006
897.000
1.101.000
1227
2007
1.229.233
1.911.463
1555
2008
1.059.506
2.111.187
1992
2009
1.183.523
1.730.602
1462
2010
1.217.868
1.851.358
1520
(Nguồn : tổng cục thống kê)
Ta thấy sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạt mức cao nhất đạt 1.229.223 tấn vào năm 2007. Sang năm 2008 khối lượng xuất khẩu giảm sút gần 170000 tấn song kim ngạch lại tăng gần 200 triệu đô la (10,45%) so với 2007 do giá tăng mạnh. Mặc dù trong niên vụ cà phê 2008-2009, Việt Nam vẫn đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu về sản lượng, nhưng về giá trị xuất khẩu lại xếp thứ tư trên thế giới. Đến 2009 dù kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng 11,7% về khối lượng nhưng lại giảm 18% về giá trị. Vicofa cho biết do ảnh hưởng của thời tiết mưa nhiều nên hạt đen nhiều (chỉ riêng hạt cà phê đen đã chiếm 15% sản lượng thu hoạch cà phê của cả nước), ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm khiến giá giảm. Mặc dù trong năm 2009, Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách mới nhằm thúc đẩy việc tái cơ cấu lại cây cà phê, nhưng phần lớn người nông dân vẫn còn đầu tư và mở rộng diện tích sản xuất cây trồng hiện có.
Từ 2006-2010, khối lượng xuất khẩu cà phê chỉ tăng 35,8% (từ 897000 tấn năm 2005 lên 1.217.868 tấn năm 2010), nhưng kim ngạch xuất khẩu tăng 68,2% (từ 1,1 tỷ USD năm 2005 lên 1,85 tỷ USD năm 2010). Có được điều này là do giá bình quân xuất khẩu có xu hướng tăng (từ 1227 USD/tấn năm 2005 lên 1520 USD/tấn năm 2010). Năm 2011, ước tính tổng lượng xuất khẩu của cả nước đạt 1,1 triệu tấn, trị giá 2,7 tỷ USD.
Cơ cấu cà phê xuất khẩu
Loại cà phê xuất khẩu
Việt Nam xuất khẩu 2 loại cà phê chủ yếu là cà phê Robusta và cà phê Arabica. Tuy nhiên chúng ta có lợi thế trong việc sản xuất cà phê Robusta nên loại cà phê này chiếm đa số trong cơ cấu loại hàng cà phê xuất khẩu. Việt Nam hiện là nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu cà phê Robusta. Đây là loại cà phê có sản lượng cao nhất ở nước ta (97% tổng sản lượng).
Sản phẩm cà phê xuất khẩu
Dù sản lượng cao như vậy, song nước ta chủ yếu xất khẩu cà phế nhân do công nghệ chế biến chưa phát triển. Hiện nay cơ cấu cà phê nhân xuất khẩu ở Việt Nam có khả năng cung cấp trên 30 loại quy cách chất lượng khác nhau. Tỷ lệ cà phê rang và cà phê hòa tan xuất khẩu còn rất thấp.
Bảng 2.4.Cơ cấu cà phê xuất khẩu từ niên vụ 2008/2009 (1 bao = 60kg)
2009
2010
2011
Niên vụ 2008/2009
Niên vụ 2009/2010
Niên vụ 2010/2011
Thời gian bắt đầu niên vụ: Tháng 10 năm 2008
Thời gian bắt đầu niên vụ:
Tháng 10 năm 2009
Thời gian bắt đầu niên vụ: Tháng 10 năm 2010
Số liệu báo cáo hàng năm
Số liệu
mới
Số liệu
báo cáo hàng năm
Số liệu
mới
Số liệu báo cáo hàng năm
Số liệu
mới
Official
Post
Data
Official
Post
Data
Official
Post
Data
Cà phê hạt xuất khẩu (nghìn bao)
16.333
16.333
16.283
16.675
16.667
16.667
16.667
Cà phê rang & nguyên hạt xuất khẩu (nghìn bao)
25
25
42
25
40
45
50
Cà phê hoà tan  (nghìn bao)
105
156
105
110
100
110
115
Tổng xuất khẩu (nghìn bao)
16.463
16.514
16.430
16.810
16.807
16.822
16.832
(Nguồn: FAS)
Nhìn vào bảng ta thấy tổng lượng xuất khẩu hàng năm tăng song cơ cấu xuất khẩu có sự thay đổi. Niên vụ 2008/2009 tổng lượng cà phê rang & nguyên hạt, cà phê hòa tan là 147 nghìn bao (tương đương 8,82 tấn), sang niên vụ 2009/2010 tăng lên 155 nghìn bao (9,3 tấn) và niên vụ 2010/2011 con số này là 165 nghìn bao (9,9 tấn). Tỷ lệ cà phê hạt xuất khẩu tăng 2,3% trong niên vụ 2009/2010 xong giữ nguyên vào niên vụ sau. Xét về tương đối qua 3 niên vụ, tổng tỷ lệ cà ph
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement