Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By phmc150809
#674012

Download Tiểu luận Cách thức vận động, phát triển theo quan điểm duy vật biện, giá trị thực tiễn trong quản lý doanh nghiệp miễn phí





Khi đã nhận thức được bản chất và những mâu thuẫn vốn có của những sự vật, hiện tượng, chúng ta có thể phán đoán là sự vật, hiện tượng sẽ biến đổi theo hướng nào, nghĩa là chúng ta có thể nhận thức được đồng thời cả hiện thực và khả năng biến đổi của sự vật, hiện tượng. Khả năng là cái chưa xảy ra, nhưng sẽ xảy ra khi có các điều kiện thích hợp. Hiện thực là cái đang có, cái tồn tại thực sự.
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật. Trong hiện thực bao giờ cũng chứa đựng những khả năng nhất định, ngược lại khả năng lại trong hiện thực và khi đủ điều kiện sẽ trở thành hiện thực mới. Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực diễn ra rất phức tạp. Trong từng giai đoạn phát triển của sự vật thường xuất hiện rất nhiều khả năng. Khả năng nào biến thành hiện tực là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Trong hoạt động thực tiễn phải dự báo các khả năng và tạo điều kiện để khả năng tốt trở thành hiện thực và ngăn ngừa các khả năng xấu.
Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là hệ thống bất biến, mà phát triển cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn. Mối liên hệ giữa các cặp phạm trù của các ngành khoa học với các phạm trù của phép biện chứng duy vật là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Do vậy, khi nghiên cứu các cặp phạm trù, cần liên hệ chúng với nhau và với các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, bởi vì dù quan trọng đến mấy, chỉ riêng các cặp phạm trù hay các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật cũng không phản ánh đầy đủ các mối liên hệ của thế giới.
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

gì khác ngoài những quy luật chung nhất của giai đoạn phát triển lịch sử ấy, cũng như là bản thân của tư duy”
Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dung để khái quát mối liên hệ, sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các giai đoạn phát triển của một sự vật, hiện tượng. Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới, theo đó, các sự vật, hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng, có khác nhau thế nào đi chăng nữa, thì cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất.
Các mối liên hệ có tính khách quan, phổ biến và đa dạng, chúng giữ những vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, không nêntuyệt đối hóa mối lien hệ nào và cũng không nên tách rời mối lien hệ này khỏi mối liên hệ khác bởi trên thực tế, các mối liên hệ còn phải được nghiên cứu cụ thể trong biến đổi và phát triển của chúng.
Nghuyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát bức tranh toàn cảnh về thế giới bằng những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó. Tính vô hạn trong thế giới khách quan,tính có hạn của sự vật, hiện tượng trong thế giới đó chỉ có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến và được quy định bằng nhiều mối liên hệ có nhiều hình thức, vai trò khác nhau. Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, con người rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Nguyên lý về sự phát triển :
Trong phép biện chứng duy vật, phát triển dùng để khái quát quá trình vận động đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Quá trình đó diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi, hiện tượng mới về chất ra đời. Phát triển là tự thân. Động lực của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng. Phát triển đi theo đường xoáy ốc, cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiện tính quanh co, phức tạp, có thể có những bước thụt lùt tương đối trong sự phát triển.
Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động. Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới cao hơn, phức tạp hơn; làm cho cơ cấu tổ chức, cách vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn. Phát triển có tính khách quan, phổ biến rất đa dạng. Từ nguyên lý phát triển, con người có thể rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn.
Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật:
Các mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng được phép duy vật biện chứng khái quát thành các cặp phạm trù cơ bản như: cái riêng - cái chung, tất nhiên - ngẫu nhiên, bản chất - hiện tượng,nguyên nhân - kết quả, khả năng – hiện thực, nội dung – hình thức…Chúng được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội. Các phạm trù cái riêng - cái chung - cái đơn nhất, tất nhiên – ngẫu nhiên, bản chất – hiện tượng là cơ sở của phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để từ đó nhận thức toàn bộ các mối liên hệ theo hệ thống. Các phạm trù nguyên nhân - kết quả, khả năng - hiện thực là cơ sở phương pháp luận để chỉ ra mối liên hệ và phát triển giữa các sự vật, hiện tượng là một quá trình. Các phạm trù nội dung - hình thức là cơ sở phương pháp luận để xây dựng các hình thức tồn tại trong sự phụ thuộc vào nội dung, phản ánh tính đa dạng của phương pháp nhận thức và thực tiễn.
Cái riêng , cái chung và cái đơn nhất:
Theo quan điểm của phép biện chứng duy vật, nhận thức bắt đầu từ sự phản ánh các sự vật, hiện tượng cụ thể của thế giới. Nhưng trong quá trình so sánh giữa các sự vật, hiện tượng này với các sự vật, hiện tượng khác,; phân biệt chỗ giống nhau và khác nhau giữa chúng, nhận thức đi đến chỗ phân biệt cái riêng-cái chung. Cái riêng là phạm trù dung để chỉ một sự vật, hiện tượng nhất định và cái đơn nhất. Cái chung là phạm trù dung để chỉ những mặt, những thuộc tính lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng. Cái đơn nhấtvlà phạm trù dung để chỉ những mặt, những đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.
Giữa cái riêng, cái chung, và cái đơn nhất có mối liên hệ biên chứng với nhau. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, biểu hiện thông qua cái riêng; ngược lại, cái riêngchỉ tồn tại trong mối lien hệ với cái chung, bao hàm cái chung; cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung cà cái bộ phận nhưng sâu sắc hơn cái riêng; cái đơn nhất và cái riêng có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật. V.I Lenin viết: “Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đến cái chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng. Bất cứ cái riêng nào cũng là cái chung, bất cứ cái chung nào cũng bao quát một cách đại khái tất cả cái riêng. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung…. Bất cứ cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác.”
Nguyên nhân và kết quả:
Nhận thức về sự qua lại giữa các mặt, các yếu tố, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau dẫn đến sự xuất hiện các sự vật, hiện tượng mới và do vậy phát sinh ra mối liên hệ nhân quả. Nguyên nhân là do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vât, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định. Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Giữa nguyên nhân và kết quả có mối liên hệ qua lại quy định lẫn nhau. Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả nên luôn có trước cái kết quả, sau khi xuất hiện, kết quả ảnh hưởng tích cực trở lại đối với nguyên nhân. Sự phân biệt nguyên nhân - kết quả lúc này có tính tương đối. Một sự vật, hiện tượng ở trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng lại là kết quả ở trong mối quan hệ khác và ngược lại tạo nên chuỗi nhân - quả vô tận. Do vậy, nguyên nhân - kết quả bao giờ cũng ở trong mối quan hệ cụ thể.
Tất nhiên và ngẫu nhiên:
Trong khi phản ánh hiện thực khách quan, con người nhận thức được tính không một nghĩa, không cùng một giá trị của các mối liên hệ khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng nên phân chia chúng thành những mối liên hệ nhất định, phải xảy ra đúng như thế và các nhóm liên hệ có thể xảy ra,cũng có thể không xảy ra, cũng có thể xảy ra thế này hay thế khác. Tất ...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement