Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By kelbin_lei
#673860

Download Luận văn Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở tỉnh Đắk Nông miễn phí





Đắk Nông là tỉnh nằm trên vùng đất Bazan màu mỡ của Tây Nguyên, rất thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp lâu năm như cao su, cà phê, tiêu, chăn nuôi đại gia súc; có diện tích rừng tự nhiên lớn và tài nguyên rừng phong phú. Tiềm năng đất đai chưa khai thác còn nhiều nên có điều kiện mở rộng quy mô phát triển nông, lâm nghiệp.
Đắk Nông có hệ thống sông Sêrêpôk và sông Đồng Nai chảy qua với mạng lưới sông suối dày đặc nên tiềm năng thuỷ điện dồi dào. Hàng chục dự án thủy điện lớn với tổng công suất trên 1.000 MW và các dự án thuỷ điện nhỏ đang được các nhà đầu tư chuẩn bị xây dựng.
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

3,29
3,24
2,94
3,03
2,61
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông năm 2005
Theo dự báo nhu cầu về NNL của tỉnh năm 2006 là 174.414 người, nhưng mức cung là 217.847 người, vượt quá nhu cầu 43.433 người (29,93%), như vậy sẽ có 19,93% số lao động sẽ không có việc làm và khó tìm được việc làm; năm 2007 nhu cầu sẽ là 180.861 người, mức cung là 233.448 người, vượt 52.587 người (22,52%), như vậy sẽ có 22,52% số lao động không có việc làm và khó tìm được việc làm [28, tr.23].
2.2.2. Về chất lượng nguồn nhân lực của Đắk Nông rất thấp so với yêu cầu, thể hiện ở chỗ số lao động được đào tạo và trình độ đào tạo còn rất ít và thấp
- Tổng số lao động qua đào tạo 32.666 người chiếm 15,37% (lao động qua đào tạo của cả nước năm 2005 là 25%), trong đó qua đào tạo nghề 11.136 người chiếm 5,24%. Lao động có chuyên môn kỹ thuật là 21.529 người chiếm 10,13%.
Lao động qua đào tạo bao gồm:
- Qua đào tạo không có chứng chỉ nghề 4.888 người chiếm 2,3%,
- Qua đào tạo có chứng chỉ nghề 3.039 người chiếm 1,43%,
- Qua đào tạo có bằng nghề 3.209 người chiếm 1,51%
- Trung học chuyên nghiệp 11.073 người chiếm 5,21%
- Đại học 6.227 người chiếm 2.93%
- Trên đại học 79 người chiếm 0,04%.
- Số lao động chưa qua đào tạo nghề 179.868 người chiếm 84,7%, trong đó ở thành thị 34.030 người và ở nông thôn 145.838 người.
Năm 2006, số người chưa tốt nghiệp tiểu học 51.626 người chiếm 24,29%.
Tốt nghiệp tiểu học 66.289 người chiếm 31,19%.
Tốt nghiệp phổ thông cơ sở 53.728 người chiếm 25,28%.
Tốt nghiệp phổ thông trung học 40.891 người chiếm 19,24%
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng hiện nay là 35,2%.
Số lao động trong độ tuổi đang đi học 24.957 người, trong đó đang theo học phổ thông 21.704 người, học chuyên môn kỹ thuật và học nghề 3.256 người [3].
Chất lượng nguồn nhân lực thấp do những nguyên nhân sau đây:
- Một là, giáo dục phổ thông của Đắk Nông chưa phát triển, dân số phân tán trên địa bàn rộng lớn, cơ sở vật chất phục vụ giảng dậy và học tập cùng kiệt nàn, đội ngũ giáo viên thiếu và yếu, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa. Do tỉnh mới thành lập, sự phát triển kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, tình hình an ninh chính trị còn nhiều diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến sự phát triển giáo dục đào tạo của Tỉnh. Đời sống nhân dân phần lớn dựa vào kinh tế nông nghiệp, kéo theo sự khó khăn khi huy động và duy trì trẻ em đi học đúng độ tuổi và thời gian đến lớp. Một số cấp ủy và chính quyền địa phương chưa thực sự quan tâm lãnh đạo và đầu tư cho công tác giáo dục. Trong nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực. Từ đó không có ý thức tự học tập nâng cao trình độ cho chính bản thân mình.
Tình hình cơ sở vật chất, trường lớp, khuôn viên nhà trường mà đặc biệt là các phòng chức năng phục vụ cho việc dạy học, nghiên cứu, thực hành của giáo viên, học sinh còn thiếu thốn. Cả tỉnh có 238 trường nhưng chỉ mới 4 trường đạt chuẩn quốc gia.Toàn tỉnh hiện có 5.642 giáo viên, trong đó giáo viên mầm non 897 người, giáo viên tiểu học 2.283 người, trung học cơ sở 1.720 người, trung học phổ thông 472 người. Tỷ lệ giáo viên trên lớp còn chưa đạt yêu cầu (riêng bậc trung học cơ sở chỉ đạt 1,6 giáo viên/lớp, quy định là 1,85 giáo viên/lớp). Số lượng giáo viên phụ trách bộ môn tự nhiên còn chưa đáp ứng đủ, dẫn tới số tiết dạy của giáo viên/tuần vượt quá quy định đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục.
Đến hết năm 2005 tỉnh mới có 25/61 xã, phường (chiếm 41%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 18/61 xã, phường đạt chuẩn về phổ cập trung học cơ sở (đạt 29,5%). Lao động trong vùng đồng bào dân tộc tại chỗ không biết đọc, viết còn phổ biến, tỷ lệ tái mù ngày càng tăng.
Tình hình đó dẫn đến mặt bằng dân trí thấp. Tỷ lệ lao động chưa tốt nghiệp tiểu học 24,29% (bình quân cả nước 17,13%); tốt nghiệp tiểu học 31,19% (bình quân cả nước 29,08%); tốt nghiệp trung học cơ sở 25,28% (bình quân cả nước 32,57%); tốt nghiệp trung học phổ thông 19,24% (bình quân cả nước 21,3%). Thực trạng này cho thấy rất khó khăn đối với công tác đào tạo nghề hiện nay để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực [24].
- Hai là, hệ thống các trường dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp của Đắk Nông còn rất kém phát triển.
Tính đến 31/5/2006 toàn tỉnh Đắk Nông có 05 cơ sở dạy nghề, với quy mô đào tạo nhỏ bé, tổng số tuyển sinh thực tế khoảng 2.000 học sinh/năm. Trong đó có 04 cơ sở công lập, chỉ 01 cơ sở của tư nhân. Nhìn chung, các cơ sở trên đều mới được thành lập, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề còn nhiều thiếu thốn; quy mô đào tạo, ngành nghề đào tạo còn nhiều hạn chế; đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề còn quá thiếu về số lượng, lại yếu cả về chất lượng chuyên môn, chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý và giảng dạy trong tình hình hiện nay theo tiêu chuẩn chung của Tổng cục dạy nghề thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Toàn Tỉnh hiện có 72 giáo viên dạy nghề, đa phần là giáo viên hợp đồng chưa qua đào tạo về trình độ sư phạm, mới chỉ 10 giáo viên đạt chuẩn về trình độ sư phạm. Nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục đào tạo và dạy nghề của một tỉnh mới thành lập còn nhiều khó khăn và chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cho phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH của địa phương.
- Ba là, do tình trạng di dân tự do từ tỉnh ngoài đến và trong nội bộ tỉnh tăng nhanh. Số dân di cư từ các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn… chủ yếu là người thuộc các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao…Từ năm 2000 - 2006 có 1.651 hộ với 8.487 nhân khẩu di cư đến Đắk Nông. Ngoài ra còn một số lượng tương đối lớn dân di cư tự do trong nội bộ Tỉnh theo tập quán du canh, du cư của đồng bào dân tộc tại chỗ… Dân di cư có nhiều mặt hạn chế: đời sống vô cùng khó khăn, sống rải rác trong rừng sâu, xa trung tâm, điều kiện sản xuất khó khăn, không có điều kiện khám chữa bệnh, con em không được đến trường, tỷ lệ thất học, mù chữ cao, nhiều tập tục lạc hậu vẫn tồn tại, tệ nạn xã hội nhiều… Du canh, du cư dẫn đến nạn phá rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, tranh chấp, sang nhượng đất đai giữa dân di cư với dân sở tại…, tình trạng đói nghèo, thất học là phổ biến. Tình hình đó làm cho chất lượng NNL của Đắk Nông trở nên thấp kém thêm.
2.2.3. Về cơ cấu nguồn nhân lực
Biểu số 2.5: Cơ cấu lao động chia theo ngành kinh tế
Đơn vị tính: %
Ngành
Năm
Ngành nông - lâm - thuỷ sản (KV1)
Ngành công nghiệp - xây dựng (KV2)
Ngành dịch vụ (KV3)
2001
91,9
1,44
7,36
2002
90,18
1,88
7,91
2003
89,23
1,97
8,8
2004
85,38
2,08
12,53
2005
79,6
3,5
16,9
Nguồn: Cục thống kê cung cấp và Kết quả điều tra lao động việc làm năm 2006.
Cơ cấu nguồn nhân lực theo ngành nghề phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế. Trong cơ cấu kinh tế của Đắk Nông, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ: Năm 2005...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement