Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Everhart
#673829

Download Đề án Thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá ở nước ta thời gian qua và những giải pháp để vận dụng tốt nó trong thời gian tới miễn phí





MỤC LỤC
 
 
LỜI MỞ ĐẦU
 
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1. Tính tất yếu khách quan.
1.1.1. Lý thuyết giá trị khách quan.
1.1.2. Lý thuyết giá trị chủ quan.
1.1.3. Lý luận giá trị lợi ích biên.
1.2. Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại phương tây
1.2.1. Quan điểm của Smit và Ricardo
1.2.2. Quan điểm của Mác.
1.2.2.1. yêu cầu nội dung của quy luật giá trị.
1.2.2.2.Tác dụng của quy luật giá trị.
1.2.2.2.1. Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.
1.2.2.2.2. Kích thích lực lượng sản xuất.
1.2.2.2.3. Thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hoá.
1.3. Yêu cầu, nội dung của quy luật.
1.3.1. Yêu cầu, nội dung của quy luật của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá TBCN.
1.3.2.Yêu cầu, nội dung của quy luật của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá XHCN.
1.4. Vị trí tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá XHCN.
1.4.1. Quy luật giá trị với kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân XHCN.
1.4.2.Quy luật giá trị và giá cả.
1.5.Bài học kinh nghiệm rút ra từ một số nước Đông Nam Á.
 
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ Ở NƯỚC TA THỜI GIAN QUA VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ VẬN DỤNG TỐT NÓ TRONG THỜI GIAN TỚI.
2.1.Thực trạng vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá ở nước ta thời gian qua.
2.1.1. Một số vấn đề về sản xuất hàng hoá, và quy luật giá trị trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH ở nước ta.
2.1.1.1. Chuyển sản xuất nông nghiệp sang kinh tế hàng hoá.
2.1.1.2. Gắn chặt quá trình sản xuất hàng hoá XHCN.
2.1.1.3. Phát huy tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế XHCN.
2.1.2.Tình hình giá cả của nước ta thời kỳ thịnh hành và thịnh trị của cơ chế tập chung quan liêu bao cấp (1955-1980).
2.1.2.1.Hệ thống giá chỉ đạo.
2.1.2.2.Hệ thống giá thị trường tự do.
2.1.2.3. Mối quan hệ giữa hai hệ thống giá.
2.1.3. Thực trạng về giá cả nước ta thời kỳ 1981-1986.
2.1.4.Thực trạng về giá cả của nước ta hiện nay.
2.2. Những nguyên nhân dẫn đến sự biến động giá cả nước ta hiện nay.
2.3. Một số giải pháp chủ yếu điều tiết giá cả của nhà nước ta hiện nay và trong thời gian tới.
2.3.1. Các giải pháp chủ yếu điều tiết giá cả của nhà nước ta hiện nay.
2.3.2. Các giải pháp chủ yếu điều tiết giá cả của nhà nước ta trong thời gian tới.
KẾT LUẬN
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Trang
 
 
1
 
2
 
2
2
2
2
3
3
3
4
4
4
4
5
5
5
 
6
 
7
 
9
9
10
 
 
11
 
 
 
11
 
11
 
11
12
12
 
13
 
13
13
14
14
15
17
18
 
18
19
 
20
 
 
 
 
 
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

i có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết. Nhờ đó phát tài, làm giàu, mở rộng quy mô sản xuất, bên cạnh đó có những người làm ăn thua kém có hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động xã hội cần thiết nên bị lỗ vốn có thể dẫn đến phá sản. Vì vậy nó mang lại phần thưởng cho những người làm ăn tốt và hình phạt cho những người làm ăn thua kém.
1.3. Yêu cầu, nội dung của quy luật giá trị.
1.3.1. Yêu cầu, nội dung của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa.
Trong Chủ Nghĩa Tư Bản tự do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện thông qua quy luật giá cả sản xuất . giá cả của hàng hoá xoay quanh giá trị và nó chính bằng giá trị cộng với phần giá trị thặng dư, đó là lấy sự bù đắp ngang giá làm chuẩn mức trong trao đổi vì cho rằng sự trao đổi những lượng lao động bằng nhau là lợi ích cơ bản của những người sản xuất hàng hoá. Còn trong Chủ Nghĩa Tư Bản độc quyền quy luật giá trị biểu hiện thông qua quy luật giá cả độc quyền trong đó giá cả độc quyền bằng chi phí sản xuất tư Bản Chủ Nghĩa cộng với lợi nhuận độc quyền, giá cả độc quyền xoay quanh giá cả thị trường. Vì vậy trong Chủ nghĩa tư bản những tỉ lệ cơ bản của nền sản xuất được quy định bởi quy luật giá trị thặng dư còn cái điều tiết thực hiện tỷ lệ cơ bản ấy là quy luật giá trị. Vì vậy trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, những người sản xuất tách với nhau mặc dầu được liên kết với nhau do sự phân công lao động xã hội - có sự đối kháng về lợi ích giữa họ với nhau, cũng như giữa họ với toàn xã hội. Trong điều kiện đó, trao đổi những lượng lao động bằng nhau là cách duy nhất để thực hiện lợi ích kinh tế của người sản xuất.
1.3.2. Yêu cầu, nội dung của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá xã hội chủ nghĩa.
Giá trị hàng hoá xét về mặt lượng là do lực lượng sản xuất quyết định, xét về mặt chất là do quan hệ sản xuất của những người sản xuất hàng hoá quyết định.
Quy luật giá trị là quy luật vận động của quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá. Từ những cơ sở trên, nội dung của quy luật giá trị trong chủ nghĩa xã hội có những phát triển nhất định, chứa đựng thêm nội dung mới tạo thành một quy luật riêng của nền sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa trong đó nội dung của quy luật cũng giống như trong các nền sản xuất hàng hoá trước đó có sự giống nhau đó là: Lấy thời gian lao động xã hội cần thiết làm tiêu chuẩn của sự hao phí lao động(cả lao động vật hoá và lao động sống) trong sản xuất, không chỉ cho một hàng hoá cá biệt mà cho cả nhóm sản phẩm của những ngành sản xuất riêng biệt.
Dưới chủ nghĩa xã hội, với chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và tính chất lao động xã hội trực tiếp, người lao động là người trực tiếp sản xuất ra hàng hoá nhưng là người lao động bộ phận, họ không sở hữu về sản phẩm mà họ trực tiếp sản xuất ra. Lợi ích của người lao động không đơn thuần gắn liền trực tiếp với sản phẩm mà họ trực tiếp sản xuất ra, mà còn do nhiều yếu tố xuất phát từ xã hội tạo thành, giữa những người lao động sản xuất không có sự trao đổi sản phẩm mà họ sản xuất ra, lợi ích cá nhân được thực hiện bằng con đường phân phối thu nhập, còn lợi ích xí nghiệp cũng không hoàn toàn tuỳ từng trường hợp vào sản phẩm mà xí nghiệp sản xuất ra. Do đó không chỉ phụ thuộc vào sự trao đổi của những sản phẩm xí nghiệp làm ra, xí nghiệp phải bảo đảm lợi nhuận và tích luỹ cho xã hội. Vì vậy dưới xã hội chủ nghĩa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội thống nhất hữu cơ và kết hợp hài hoà. Sự thống nhất giữa các lợi ích này đã đem lại cho quy luật giá trị một nội dung mới khác với quy luật trước nó: Đó là sự kết hợp giữa các lợi ích trong lượng giá trị. Quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hội yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tiến hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, nhằm bảo đảm thống nhất giữa các lợi ích: lơị ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội.
Chủ nghĩa xã hội có thể kế hoạch hoá việc hình thành thời gian lao động xã hội cần thiết, đó là thời gian lao động cần thiết được tính trên điều kiện kỹ thuật trung bình, và giữa các lợi ích phải phù hợp với điều kiện kinh tế của xã hội trong từng thời kì, trong thực tiễn có những xí nghiệp có giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội đó là những xí nghiệp cần thiết đáp ứng nhu cầu xã hội nên được bảo hộ bằng cách bù lỗ, sự bù lỗ đó là sự khẳng định giá trị hàng hoá do lao động xã hội cần thiết chứ không phải thời gian lao động cá biệt. Vì vậy quy luật giá trị dưới chủ nghĩa xã hội đòi hỏi việc trao đổi hàng hoá phải tiến hành trên cơ sở giá trị tức là lấy giá trị xã hội làm cơ sở cho giá cả hàng hoá, còn phần giá trị do lao động thặng dư sáng tạo được phân phối trong giá cả dưới hình thức lợi nhuận không chỉ đảm bảo lợi ích riêng cho xí nghiệp, người lao động mà phải đảm bảo sự thống nhất giữa ba lợi ích: Lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội.
Như vậy giá cả của hàng hoá không nhất định phải nhất trí với giá trị cá biệt hay giá trị xã hội của hàng hoá đó, giá cả có khả năng tách rời giá trị hàng hoá nhưng xét trên toàn bộ tổng giá cả vẫn bằng tổng giá trị.
1.4. Vị trí, tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá Xã hội chủ nghĩa.
Quy luật giá trị là một quy luật kinh tế căn bản trong toàn hệ thống các quy luật kinh tế. Nó không điều tiết tự phát nên kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa, nhưng nó thực hiện những chức năng điều tiết nhất định trong phạm vi toàn bộ hệ thống điều tiết nên kinh tế quốc dân một cách có kế hoạch.
Quy luật giá trị kích thích sản xuất dựa vào hao phí lao động xã hội cần thiết nó thúc đẩy giảm những hao phí đó và phát triển sản xuất trê cơ sở kỹ thuật ngày càng tiến bộ, việc lựa chọn và áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất đều được tính toán- Hiệu quả kinh tế về mặt giá trị.
Những tác dụng của quy luật giá trị đối với sản xuất xã hội được thể hiện, tính toán kinh tế để bố trí lực lượng sản xuất trong cả nước nhằm thực hiện tốt nhất yêu cầu của quy luật phát triển kinh tế có kế hoạch, quy định cân đối không cơ bản, tác động đến việc hoàn thiện các cân đối cơ bản đến sự hình thành cân đối khác trong nền kinh tế. Quy định các phương án kinh tế tối ưu trong thực hiện yêu cầu các quy luật kinh tế khác, quy định các phương tiện kinh tế kích thích nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Quy luật giá trị điều tiết tiêu dùng xã hội một cách rõ rệt dưới hình thái giá bán lẻ, nó trở thành công cụ để nhà nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện chính sách tiêu dùng phù hợp với điều kiện sản xuất từng thời kì.
Từ những nhận xét trên ta thấy tác dụng của quy luật giá trị cũng như các quy luật kinh tế khác của chủ nghĩa xã hội...
Kết nối đề xuất:
Nơi này có anh English Lyrics
Synonym dictionary
Advertisement
Advertisement