Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By batuocbongdem988
#673547 Download Tiểu luận Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn miễn phí



Mục lục
Lời mở đầu
I. Một số vấn đề chung về ly hôn.
II. Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
1. Quyền yêu cầu li hôn
2. Cơ sở pháp lý của hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
a. Quan điểm hạn chế ly hôn dưới chế độ cũ
b. Nguyên tắc Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.
3. Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn.
4. Ý nghĩa của qui định hạn chế yêu cầu ly hôn
Kết luận.

Pháp luật Việt nam không đặt ra điều kiện ngăn cấm quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng. Nhưng xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ, trẻ em, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người vợ và con chưa thành niên, phụ nữ có thai, thai nhi cũng là bảo vệ lợi ích của xã hội Luật hôn nhân và gia đình năm 2005 qui định về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng (khoản 2 Điêu 85). Qui định này được hình thành trên những cơ sơ pháp lý nhất định và có ý nghĩa trong đời sông hôn nhân gia đình ngày nay.
I. Một số vấn đề chung về ly hôn.
Khoản 8 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình có giải thích thuật ngữ ly hôn như sau: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hay quyết định theo yêu cầu của vợ hay của chồng hay cả hai vợ chồng”.
Như vậy, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, là việc “khai tử” cho một gia đình - một tế bào của xã hội. Do đó, ly hôn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, hạnh phúc của vợ chồng cũng như thành viên trong gia đình, mà nó còn ảnh hưởng đến lợi ích của toàn xã hội. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, có một thực tế đáng buồn và đáng báo động là việc ly hôn có xu hướng gia tăng đáng kể, cả ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Những nguyên nhân, lý do ly hôn cũng rất đa dạng, phức tạp. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích chung của toàn xã hội. Thế nhưng, việc cấm ly hôn (như quy định của pháp luật thời phong kiến) lại là một việc làm không thiết thực, mà nếu đề cập đến chắc chắn sẽ bị phản đối rất gay gắt. Bởi ly hôn, cũng như kết hôn là một mặt của hôn nhân. Nếu như kết hôn là một hiện tượng bình thường nhằm xác lập qua hệ vợ chồng, thì ly hôn lại là một hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng lại không thể tránh được, và lại là mặt không thể thiếu được của khi hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Trong trường hợp đó, ly hôn là một việc cần thiết cho cả vợ và chồng cũng như cho cả xã hội, vì nó sẽ giải phóng cho tất cả mọi người, cho cả vợ chồng, các con cũng như những thành viên khác trong gia đình thoát khỏi cảnh xung đột, mâu thuẫn bế tắc trong cuộc sống chung. Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ, bảo đảm quyền tự do hôn nhân bao gồm quyền tự do kết hôn của nam, nữ và quyền tự do ly hôn của vợ chồng. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000, quyền yêu cầu ly hôn nhằm chấm dứt qua hệ vợ chồng trước pháp luật là quyền nhân thân gắn liền với nhân thân của vợ, chồng và chỉ có vợ hay chồng, hay cả hai vợ chồng mới có quỳên yêu cầu ly hôn. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét xử ly hôn là Toà án nhân dân.
Như vậy, cũng như kết hôn, pháp luật quy định cụ thể về trường hợp ly hôn. Trong các vụ án hôn nhân gia đình, tòa án thường vận dụng khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình để ra phán quyết. Theo đó, nếu xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được thì cho ly hôn, còn không thì bác. Việc xét thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng dựa vào hướng dẫn trong Nghị quyết số 02/2000NQ - HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao:
Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)
a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.
a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hay người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hay cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
- Vợ hay chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hay có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hay cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hay người chồng hay bà con thân thích của họ hay cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;
a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hay vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hay vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.
a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.
Như vậy, khi xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì người vợ hay người chồng có quyền gửi đơn xin ly hôn đến toà án để xét việc chấm dứt hôn nhân. Trường hợp đơn phương xin ly hôn, bên yêu cầu ly hôn có nghĩa vụ chứng minh tình trạng trầm trọng trong hôn nhân trước toà án, nếu toà án xét thấy việc chung sống đúng là không thể kéo dài được nữa thì sẽ ra quyết định cho ly hôn; ngược lại sẽ bác đơn và không giải quyết.
II. Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn
1. Quyền yêu cầu li hôn
Pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không thể cấm hay đặt ra những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ yêu nhau, lại càng không thể (và không được) cưỡng ép họ kết hôn với nhau. Theo đó, khi tình cảm yêu thương giữa vợ chồng đã cạn, mục đích của hôn nhân đã không đạt được (mục đích của hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững - Điều 1 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000), thì Nhà nước cũng không thể bắt họ chung sống tiếp với nhau, cấm ly hôn (nếu thực hiện điều này sẽ chỉ gây hại tới vợ, chồng, con cái, các thành viên trong gia đình và toàn xã hội). Vì v...

Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Hình đại diện của thành viên
By daigai
#997561 link mới cập nhật, mời các bạn xem lại bài đầu để tải
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement