Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By thienthanbenhocualonganh_ptt
#672895

Download Đề tài Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam miễn phí





MỤC LỤC
 
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẤN NỘI DUNG
I. Khái quát về nguồn lực con người và vai trò của nó đối với sự phát triển.
1. Nguồn lực con người
2. Vai trò của nguồn lực con người đối với quá trình phát triển
II. Đặc điểm nguồn nhân lực của nước ta
1. Thực trạng chung về nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
2. Thế mạnh và hạn chế của nguồn nhân lực ở nước ta
III. Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH và sự ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia đối với sự phát triển nguồn nhân lực
1. Vai trò của nguồn nhân lực với sự phát triển đất nước
2. Vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đối với phát triển nguồn nhân lực và nền kinh tế của nước nhận đầu tư
2.1. Mối quan hệ giữa chiến lược của TNCs và sự phát triển nguồn nhân lực
2.2. Ảnh hưởng của TNCs đối với phát triển nguồn lực
IV. Những giải pháp cơ bản để phát huy vai trò nguồn lực con người Việt Nam hiện nay
1. Tăng cường giáo dục và đào tạo
2. Đẩy mạnh các chính sách y tế và chính sách chăm sóc sức khoẻ nhân dân
3. Phát triển kinh tế xuất khẩu lao động
4. Tăng cường quản lý phát triển nguồn nhân lực con người
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

1979 đến nay được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây: (Xem bảng 1)
Số liệu bảng trên cho thấy:
Tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ công nhân kỹ thuật trở lên trong tổng lực lượng lao động (15 – 59 tuổi) đã tăng lên: 3.13% (1979); 5.21% (1989); 6.44% (1999) và 6 năm sau (2005) đạt 25%, lao động chân tay là 75%. Trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ đó tương ứng là 72% và 28%. Tỷ lệ này phản ánh sự lạc hậu về kỹ thuật, công nghệ của nền sản xuất và trình độ thấp của lực lượng lao động. Xu hướng chuyển dịch đó ở nước ta là có tiến bộ nhưng mức tăng của nguồn nhân lực trí thức vẫn xa mới đáp ứng được yêu cầu CNH - HĐH.
Cấu trúc cao đẳng, đại học trở lên/ trung học chuyên nghiệp/ công nhân kỹ thuật qua 4 mốc thời gian trên: 1/2, 17/3.06 (1979); 1/1.14/2.36 (1999); 1/0.82/2.88 (2005) cho thấy chỉ số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp giảm liên tục từ 2.17 (1979) xuống còn 0.82 (2005); chỉ số công nhân kỹ thuật có chiều hướng giảm (1979-1999), sau 6 năm chỉ số này có tăng lên, nhưng tăng lên với tốc độ chậm, năm 2005 chiếm chỉ số là 2.88. Có ý nghĩa là cơ cấu các loại lao động này năm 2005, cứ một lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên thì chỉ có 0,82 lao động có trình độ trung cấp và 2.88 lao động có trình độ công nhân kỹ thuật (1: 0.82 : 2.88). Sự chuyển dịch này, chỉ ra một hiện tượng “thầy” nhiều hơn “thợ”, nói lên sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu trình độ lao động trong nền kinh tế giai đoạn tiến bộ kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam hiện nay, cơ cấu CNKT phải là 1:4:20 mới là hợp lý. Tình trạng này có nhiều nguyên nhân, một ttrong những nguyên nhân đó là vấn đề tâm lý – xã hội, còn tồn tại tình trạng coi trọng bằng cấp, không coi trọng công nhân kỹ thuật trong khi nhu cầu của xã hội về CNKT ngày càng tăng cao. Điều mâu thuẫn này xuất phát từ một nghịch lý ở nước ta hiện nay, cha mẹ lo việc học hành của con cái, đầu tư tiền của cho con học, nhưng việc làm, quyền lợi của con thì họ không biết sẽ ra sao sau khi học xong. Mọi thứ tốn kém đều do cha mẹ học sinh chịu, nhưng doanh nghiệp và xã hội hưởng kết quả (có quyền lựa chọn sử dụng theo nhu cầu của mình). Chính vì vậy nên việc chọn ngành nghề đào tạo, cấp học của học sinh phần lớn là theo ý chí của cha mẹ học sinh, họ muốn việc làm của con cái sau khi tốt nghiệp phải xứng đáng với công sức, tiền của mà họ đã đầu tư. Muốn thay đổi tâm lý này cần có sự nỗ lực chung từ Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò quản lý, điều hành, chi phối; doanh nghiệp hấp dẫn, thu hút đội ngũ công nhân kỹ thuật bằng tuyển dụng và chính sách tiền lương; toàn xã hội cần có cuộc vận động làm cho ai cũng thấy được học nghề có vị trí quan trọng và được xã hội đánh giá cao.
Tính tới tháng 12/2000, Việt Nam đã có trên 1.3 triệu người có trình độ đại học – cao đẳng; trên 10.000 thạc sỹ; 13.55 tiến sỹ ( trong đó 610 tiến sỹ khoa học). Bình quân có 190 cán bộ khoa học công nghệ/10000 dân (tỷ lệ trong năm 1989 là 105). Theo đó, cơ cấu tỷ lệ cán bộ (theo trình độ chuyên môn): 98% đại học, cao đẳng; 0.75% thạc sỹ; 0.97% tiến sỹ và tiến sỹ khoa học (tiến sỹ khoa học: 0,05). Tỷ lệ đó thể hiện mối tương quan giữa các loại trình độ là: 1 tiến sỹ; 0.8 thạc sỹ; 105 đại học, cao đẳng.
Đến 2006, Việt Nam đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ đại học, cao đẳng trở lên, trong đó có trên 14 nghìn tiến sỷ và 16 nghìn thạc sỹ. Số lượng cán bộ khoa học công nghệ trên đại học đã tăng từ 23.500 (2000) lên trên 20.000 (2006). Theo thống kê của Bộ Nội Vụ, tính đến 11/2004, cả nước có khoảng 5.479 giáo sư, phó giáo sư được công nhận, trong đó số lượng giáo sư, phó giáo sư đang làm việc là 3.075, chiếm 56.1%. Mối tương quan giữa các loại trình độ ở thời điểm năm 2006 là: 1 tiến sỹ: 1.14 thạc sỹ: 128 đại học, cao đẳng. Tỷ lệ trên cho thấy số lượng tiến sỹ và tiến sỹ khoa học có tăng lên nhưng tăng chậm hơn so với sự tăng lên của đội ngũ. Những con số đó còn quá nhỏ bé so với yêu cầu của quá trình CNH - HĐH, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trẻ kế cận có trình độ cao, chuyên gia giỏi, cán bộ đầu đàn giỏi ngày nay càng thiếu, đặc biệt là chuyên gia về công nghệ. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tỷ lệ số người có trình độ trên đại học trên tổng số cán bộ giảng dạy hiện mới đạt 12.7% (cần đạt 30%). Thêm vào đó, có một số khá đông cán bộ khoa học có chuyên môn cao, đạt “độ chín” về mặt trí tuệ thì lại ở độ tuổi về hưu, dễ dẫn đến nguy cơ thiếu hụt cán bộ trình độ cao và là sự lãng phí chất xám lớn. Điều này đặt ra vấn đề cấp bách phải tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học,công nghệ trẻ, kế cận, đồng thời phải có chính sách sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ có trình độ cao đã đến tuổi nghỉ hưu, nhằm phát huy đựoc trí tuệ của toàn bộ đội ngũ.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa, đội ngũ công chức hành chính nhà nước là bộ phận trọng yếu, chịu trách nhiệm vận hành bộ máy quản lý Nhà nước về mọi mặt. Chất lượng đội ngũ công chức ở nước ta những năm qua mặc dù đã được củng cố và nâng cao lên một bước, song so với yêu cầu quản lý Nhà nước trong thời ký đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẫn còn bất cập và là vấn đề quan tâm giải quyết. Phần lớn công chức ở nước ta trước đây được đào tạo trong môi trường và điều kiện làm việc theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, nên vẫn chịu ảnh hưởng nặng của cơ chế và cách làm việc kiểu công chức cũ. Số ngưòi được đào tạo trong những năm tiến hành công cuộc đối mới, xây dựng nền kinh tế thị trường còn ít; do vậy, chức năng động, khả năng thích ứng của công chức nói chung bị hạn chế. Hơn nữa, việc đào tạo công chức Nhà nước vẫn còn thực hiện bằng con đường bồi dưỡng qua các lớp ngắn hạn, tại chức nên năng lực chuyên môn của công chức chưa đáp ứng được yêu cầu mới.
b. Thực trạng nguồn nhân lực ở Thành phố Hồ Chí Minh
Với vị thế là đô thị lớn của Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí chính trị quan trọng trong nước, là một trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, khoa học-công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, đứng đầu cả nước về mức GDP bình quân đầu người, có lợi thế về tiềm năng con người, giàu chức năng sáng tạo, đông đảo đội ngũ lao động lành nghề, lực lượng chất xám về khoa học tự nhiên, công nghệ và xã hội nhân văn chiếm tỷ trọng lớn so với cả nước. Bên cạnh đó, thành phố Hồ Chí Minh có tầng lớp doanh nhân nhạy bén với thị trường, có mối liên hệ và điều kiện, cho phép thành phố Hồ Chí Minh chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới nhanh, thu hút mạnh đầu tư bên ngoài, đặc biệt là trí tuệ và nguồn vốn của của ngươì Việt ở nước ngoài. Có thể nói, nguồn nhân lực của thành phồ Hồ Chí Minh có thế mạnh nổi trội, quyếtđịnh vai trò đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đ
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement