Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
#672879

Download Tiểu luận Thực trạng về vai trò của nhà nước trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà nước đối với quá trình CNH-HĐH ở nước ta trong thời gian tới miễn phí





Quy mô giáo dục không ngừng phát triển ở các nghành học, các cấp học. Nhưng sự phát triển không đồng đều qua các thời kì. Thời kì trước đổi mới giáo dục, giáo dục Việt Nam tuân theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Giáo dục và đào tạo được nhà nước cấp ngân sách hoàn toàn các chỉ tiêu giáo dục được đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội nhà nước có kế hoạch phân bổ và sử dụng lực lượng lao động đã qua đào tạo. Do đó mức tăng quy mô giáo dục do nhà nước hoạch định và năm sau luôn cao hơn năm trước. Thời kì đổi mới quy mô giáo dục có những biến động lớn lúc đầu có sự giảm sút đột ngột và sau đó tăng dần nhưng mức tăng không đáng kể. Theo số liệu của Tổng Cục thống kê thì năm học 1986-1987 cả nước có 12482, 9 nghìn học sinh phổ thông thì năm học 1990-1991 con số đó là 11882, 9 nghìn giảm 5%. Những năm sau số học sinh phổ thông đã tăng lên. So với tỉ lệ tăng dân số trong độ tuổi đi học thì mức tăng lượng học sinh đến trường không đáng kể. Nói khác đi là tỉ lệ học sinh trong độ tuổi đi học giảm đi, thí dụ năm học 86-87 cả nước có 910, 6 nghìn thì năm 90-91 chỉ còn 524, 2 nghìn, giảm 73%. Số học sinh trong độ tuổi đi học trung học liên tục giảm từ năm 90-93, phần lớn những người bỏ học là con em lao động nghèo hay con em nông dân họ trở thành lao động chính, một bộ phận khác là con em các gia đình thành thị họ cần có việc làm để nâng cao mức sống tìm việc làm trong các cơ sở tư nhân. Năm 1991-1992 là năm học chặn đứng tình trạng xuống cấp về quy mô giáo dục ở các cấp học. Trong hai năm học sau đó số lượng học sinh các cấp học phổ thông đã tăng lên với mức tăng hàng năm là 5%và 7%.
 



Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay

Tóm tắt nội dung:

nh và kinh nghiệm của các nước trong quá trình cộng nghiệp hoá rất cần thiết cho chúng ta. Mỗi mô hình cụ thể và những kinh nhgiệm cụ thể đều xuất phát từ điều kiện cụ thể của mỗi nước trong bối cảnh quốc tế. Từ những kinh nghiệm của các nước, nhà nước có những chính sách thực hiện công nghiệp hoá một cách có hiệu quả.
Chương 2
Thực trạng về vai trò của nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá thời gian qua và một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nhà nước đối với quá trình CNH – HĐH ở nước ta trong thời gian tới
2.1. Thực trạng về vai trò của nhà nước trong quá trình CNH – HĐH ở nước ta thời gian qua.
2. 1.1. Thực trạng về xác định mục tiêu, định hướng cho bước đi của CNH – HĐH.
Vai trò kinh tế của Nhà nước là vai trò không thể thiếu được của mỗi Nhà nước trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước,. Vai trò của Nhà nước được biểu hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, Nhà nước có vai trò định hướng sự phát triển kinh tế. Vai trò quản lí của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện trước hết và quan trọng ở chiến lược phát triển kinh tế xã hội, xác định mục tiêu Nhà nước cụ thể hoá đường lối kinh tế của Đảng thành những mục tiêu, tốc độ phát triển cần đạt tới và xác định thứ tự mục tiêu. Do đó không những cần coi trọng mà phải nâng cao kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
Thứ hai, Nhà nước tạo môi trường, điều kiện cho các hoạt động kinh tế. Điều kiện quan trọng hàng đầu là sự ổn định về chính trị kinh tế xã hội đển các tổ chức kinh tế, các chủ thể kinh doanh hàng hoá yên tâm bỏ vốn đầu tư, mở rộng sản xuất..
Xây dựng phát triển đồng bộ các loại thị trường bao gồm thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, sức lao động, tiền tệ sản phẩm khoa học, dịch vụ...
Phát triển hệ thống thông tin kinh tế, khoa học công nghệ, các dự báo về mặt hàng giá cả các nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước.
Xây dựng mới và nâng cấp dần cơ sở hạ tầng cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Bao gồm cơ sở hạ tầng về tài chính tiền tệ và cơ sở hạ tầng xã hội.
Thứ ba, Nhà nước điều tiết thị trường bằng các công cụ như :
Pháp luật:quản lí Nhà nước trong nền kinh tế thị trường chủ yếu bằng pháp luật. Pháp luật, quan trọng là hệ thống pháp luật kinh tế, tạo hành lang an toàn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm kỉ cương cho các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội. Do đó cần có hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và từng bước hoàn chỉnh khắc phục tình trạng thiếu pháp luật gây nhiều kẽ hở trong quản lí. Đó là một nguyên nhân quan trọng của những hành vi lạm dụng tiêu cực tham nhũng buôn lậu, ăn cắp tài sản quốc gia gây hỗn loạn trong các hoạt động kinh tế.
Các chính sách kinh tế :trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, chính sách kinh tế là một công cụ cực kì sắc bén và trước hết là chính sách tài chính tiền tệ tín dụng, chính sách thương mại và thuế quan, chính sách công nghệ và chuyển giao công nghệ...
Thứ tư, sự kiểm soát của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế. Kiểm soát là nhằm thiết lập các trật tự kỉ cương trong hoạt động kinh tế, bảo vệ tài sản quốc gia, lợi ích của người lao động và góp phần thực hiện công bằng xã hội, Nhà nước thực hiện kiểm kê kiểm soát đăng kí kinh doanh, hoạt động kinh doanh, chất lượng sản phẩm, tài chính... đối với mọi hoạt động sản xuất lưu thông.
Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá thì vai trò hoạch định chính sách phát triển kinh tế đảm bảo nền kinh tế theo đúng mục tiêu đã định là quan trọng nhất.
1.2. Thực trạng về phát triển nguồn nhân lực.
Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục trong sự nghiệp đổi mới và phát triển, nghị quyết lần thứ 4 BCHTW Đảng khoá VII đã chỉ rõ “ cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy và là mộtđiều kiện cơ bản để bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội. Giáo dục là quốc sách hàng đầu thể hiện ở các quan điểm cơ bản sau :
Thứ nhất, đầu tư cho giáo dục là một dạng đầu tư phát triển vì nó là động lực để tăng trưởng kinh tế. Giáo dục cung cấp cho nền kinh tế một lực lượng lao động có tay nghề giỏi có trí tuệ cao có năng lực thực sự. Để thực hiện được thì phải đổi mới liên tục mô hình giáo dục. Khi giáo dục trở thành động lực tăng trưởng kinh tế thì ngân sách cho giáo dục không còn là gánh nặng cho xã hội nữa.
Thứ hai, đó là quan điểm xã hội hoá giáo dục đào tạo. Phát triển giáo dục và đào tạo phải mang tính chất xã hội hoá cao là sự nghiệp của toàn dân. Khi giáo dục có tính xã hội thì mọi thành viên trong cộng đồng đều có trách nhiệm quan tâm góp sức lực tiền của phát triển giáo dục. Mặt khác mọi thành viên đều phải có nghĩa vụ học tập vì nó mang lại lợi ích trực tiếp cho bản thân, cho các doanh nghiệp và cho toàn xã hội. Cho nên người đi học phải có nghĩa vụ đóng góp học phí, người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo.
Thứ ba trong nền kinh tế thị trường có sự phân hoá giàu cùng kiệt do đó để công bằng trong cơ hội giáo dục và đào tạo, tạo nên sự đồng đều giữa các vùng Đảng và Nhà nước có các chính sách ưu tiên phát triển.
Thứ tư, ưu tiên xây dựng các cơ sở đào tạo có chất lượng cao. Bởi vì khi quy mô giáo dục mở rộng thì không thể phát triển đều khắp trên diện rộng các trường có chất lượng như nhau. Do đó phải tập trung phát triển một bộ phận nhỏ giáo dục có chất lượng cao. Bộ phận giáo dục và đào tạo có chất lượng cao sẽ là hạt nhân để từ đó giúp cho việc nâng cao chất lượng của cả hệ thống giáo dục.
Giáo dục VIệT NAM đang đứng trước những thách thức to lớn trước yêu cầu đổi mới kinh tế xã hội và trước yêu cầu công nghiệp hoá hiện đaị hoá trước sức ép về nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực. Trong vòng 20 năm tới giáo dục VIệT NAM phải thực hiện được các mục tiêu cơ bản : nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.
Mục tiêu thứ nhất là nâng cao mặt bằng dân trí. Vận động thanh thiếu niên dưới 23 tuổi đi học để nâng số năm đi học trung bình của người dân ở mức 5 hiện nay lên 9 vào năm 2020. Mặt bằng dân trí được nâng lên và biểu hiện của nó là người có trình độ văn hoá phổ thông nắm được kiến thức khoa học công nghệ cơ bản. Thứ hai là tăng học sinh các cấp học liên tục. Thứ ba là nâng tỉ lệ những người có trình độ cử nhân tiến sĩ ngang bằng với các nước trong khu vực.
Mục tiêu thứ hai là đào tạo nguồn nhân lực. Tập trung trước hết vào đào tạo hướng nghiệp cho học sinh một cách thiết thực. Để cho mọi người có kĩ năng lao động kĩ thuật liên tục tăng lên 30% vào năm 2020. Tăng tỉ lệ lao động được đào tạo nghề ở mức 60% năm 2020.
Mục tiêu thứ ba là bồi dưỡng nhân tài vì nhân tài là động lực của sự phát triển, là động lực tạo nên các ...
Kết nối đề xuất:
Thành ngữ tiếng Anh có chứa die
Advertisement
Advertisement