Sách chưa phân loại, sách kiến thức Ebook download miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By Vere
#649870

Download Khóa luận Du lịch Hải Dương: Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển miễn phí





MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương I: Vai trò của Du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội .6
1.1. Khái quát chung về du lịch 6
1.1.1. Một số khái niệm trong du lịch .6
1.1.2. Tài nguyên du lịch .8
1.1.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch . 9
1.1.4. Các loại hình du lịch .10
1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch 13
1.1.6.Chức năng của hoạt động du lịch .16
1.2.Vai trò của hoạt động du lịch 17
1.2.1.Vai trò của hoạt động du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội .17
1.2.2.Vai trò của hoạt động du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội HD .19
Chương II: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch Hải Dương 20
2.1.Tiềm năng phát triển du lịch Hải Dương .20
2.1.1.Giới thiệu chung về Hải Dương 20
2.1.2.Tài nguyên du lịch Hải Dương .22
2.1.2.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên 22
2.1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn .27
2.1.2.3. Văn hóa ẩm thực .39
2.1.2.4. Kết cấu hạ tầng .40
2.1.3. Đánh giá chung về tài nguyên du lịch .43
2.1.3.1. Thuận lợi .43
2.1.3.2. Khó khăn .45
2.2. Thực trạng phát triển du lịch Hải Dương .45
2.2.1. Thị trường khách du lịch ở Hải Dương .45
2.2.1.1. Thị trường khách quốc tế .46
2.2.1.2. Thị trường khách nội địa .47
2.2.2. Các hoạt động dịch vụ du lịch của Hải Dương .49
2.2.2.1. Dịch vụ lưu trú .49
2.2.2.2. Dịch vụ ăn uống .50
2.2.2.3. Hoạt động vận chuyển .51
2.2.2.4. Hoạt động lữ hành .52
2.2.2.5. Hoạt động ki nh doanh dịch vụ du lịch khác (D ừng chân, mua
sắm, vui chơi, giải trí, thể thao ) .53
2.2.3. Đầu tư trong du lịch .57
2.2.4. Lao động trong du lịch .59
2.2.5. Những thành công và hạn chế .61
2.2.5.1. Những thành công .61
2.2.5.2. Một số hạn chế 61
2.2.5.3. Nguyên nhân .62
Chương III. Phương hướng và giải pháp phát triển . .64
3.1. Phương hướng phát triển du lịch Hải Dương .64
3.2. Các giải pháp phát triển .68
3.2.1. Nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh, quản lý nhà nước về du
lịch và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch 68
3.2.2. Giải pháp về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch .69
3.2.3. Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tạo ra các sản phẩm du
lịch đặc thù .71
3.2.4. Khai thác, bảo tồn tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du
lịch nhân văn theo quan điểm phát triển bền vững 72
3.2.5. Đẩy mạnh xúc tiến quảng bá mở rộng thị trường .74
3.2.6. Giải pháp về vốn 76
3.3 Một số kiến nghị 77
3.3.1. Kiến nghị với Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch .77
3.3.2. Kiến nghị với UBND tỉnh Hải Dương .77
3.3.3. Kiến nghị với chính quyền địa phương .78
KẾT LUẬN .79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80



++ Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay!

Tóm tắt nội dung:

theo tâm của từng người.
Phần hội: thường tổ chức các trò chơi dân gian như chọi gà, đánh đu và diễn
lại quân trận của Trần Hưng Đạo trong chống Nguyên Mông xâm lược.
Hội Kiếp Bạc là lễ hội lớn của đất nước, hội lớn của Hải Dương. Việc tổ chức
lễ hội ngày càng hoàn thiện hơn. Lượng khách đến lễ hội và thăm quan di tích
ngày càng tăng. Đây là cơ hội tốt để nâng cao tinh thần yêu nước, hun đúc
lòng tự tin vào sức mạnh dân tộc trước họa xâm lăng, xây dựng nếp sống lành
mạnh, tạo điều kiện cho du lịch phát triển.
Lễ hội chùa Giám
Chùa Giám, Đền Bia, và Đền Xưa là ba di tích quan hệ mật thiết đến
cuộc đời và sự nghiệp của Đại danh y Tuệ Tĩnh. Lễ hội chùa Giám là một
Du lịch Hải Dương – Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển
Nguyễn Thị Thương – VHL201 35
hình thức kỷ niệm đại danh y. Trước đây hội không lớn chỉ có quy mô làng
xã, và sau này hội mới lớn dần lên có quy mô quốc gia. Hội được tổ chức
trong 3 ngày từ 13 đến 15 tháng 2 âm lịch, nhưng công tác chuẩn bị phải làm
trước hàng tháng. Ngày 13 tháng 2 là ngày rước tượng Tuệ Tĩnh từ chùa về
Nghè, đặt tại gian giữa. Lễ rước trịnh trọng theo nghi thức cổ truyền. Dân các
nơi đến dự hội suốt 3 ngày có tới hàng vạn lượt người. Hàng quán chật kín hai
bên trục đường của xã. Trên sân hội trường và sân Chùa, các trò chơi dân gian
diễn ra suốt 3 ngày đêm. 14 tháng 2 là ngày trọng hội, buổi sáng làm lễ tế
danh y tạ Nghè, Đội tế có 17 cụ có khả năng về tế lễ, có uy tín và ngoại hình
tốt, sau khi phần tế hoàn tất,bắt đầu đến hội rước. Đoàn rước thường rất đông
gồm nhiều đội hình.
Đi đầu là hội múa kỳ lân, làm nhiệm vụ cổ động và dẹp đường, thứ 2 là
đội hình thanh niên mặc đồng phục, cầm vòng hoa vừa đi vừa múa như trong
hội thể thao, thứ 3 là hội rước hồng kỳ, thứ 4 là đội trống, thứ 5 là đội rước ảnh
Bác Hồ, thứ 6 là đội siêu đao, chấp kích, bát bửu, thứ 7 là kiệu thuốc Nam, thứ
8 là đoàn tế nam, thứ 9 là đoàn tế nữ, thứ 10 là kiệu rước tượng Tuệ Tĩnh đặt
trên đòn bắt cống, có lọng che hai bên, thứ 11 là đoàn tăng ni, phật tử, trang
phục theo nhà phật, cuối cùng là đoàn các già làng và du khách thập phương và
dân chúng.
Lễ hội chùa Giám là lễ hội truyền thống được mở rộng và nâng cao, lễ
nghi truyền thống và văn hóa hiện đại kết hợp hài hòa hiệu quả.
Ngoài lễ hội tiêu biểu trên Hải Dương còn rất nhiều lễ hội khác như: lễ
hội Đền Cao, lễ hội Đền Sượt, lễ hội Đền Quát….
* Các làng nghề truyền thống.
Cũng giống như các vùng quê khác của tổ quốc Việt Nam, Hải Dương
là một vùng quê trù phú với những cánh đồng lúa, ngô, khoai… xanh ngút
ngàn, thẳng cánh cò bay. Hơn nữa lại mang những đặc trưng của nền văn hóa
vùng đồng bằng sông Hồng. Hải Dương có một hệ thống các làng nghề truyền
thống khá phong phú. Trong sự phát triển kinh tế xã hội của Đất Nước, nhiều
ngành nghề truyễn thống của tỉnh đã bị mai một đang dần dần được khôi
phục. Đến nay toàn tỉnh Hải Dương có gần 1100 làng và khu dân cư có ngành
Du lịch Hải Dương – Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển
Nguyễn Thị Thương – VHL201 36
nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chiếm trên 77% tổng số làng và khu dân
cư toàn tỉnh, tổng giá trị sản xuất ước đạt 900 tỷ đồng, chiếm 50% giá trị sản
xuất công nghiệp ngoài quốc doanh. Các làng nghề chiếm khoảng 80 nghìn
lao động, chiếm trên 8% số lao động xã hội của tỉnh.
Hiện nay trong tỉnh có 22 làng được UBND tỉnh cấp bằng công nhận
đạt tiêu chuẩn làng nghề, trong đó có 11 làng nghề truyền thống, 7 làng nghề
cổ truyền, ngoài ra còn có 14 làng nghề mới. Mỗi làng nghề có một loại sản
phẩm khác nhau: làng chuyên chế biến nông sản thực phẩm làng làm đồ thủ
công mỹ nghệ, làng làm may, giầy, thêu ren, có làng sản xuất và sửa chữa cơ
khí… Sản xuất ở các làng nghề này rất ổn định và ngày càng phát triển theo
hướng bền vững, đời sống nhân dân trong vùng được nâng lên rõ rệt, thu nhập
thường cao hơn mức thu nhập của người làm nông nghiệp.
Làng nghề tiêu biểu.
 Làng nghề gốm Chu Đậu.
Gốm Chu Đậu-Mỹ Xá, còn được biết đến là gốm Chu Đậu, là gốm
sứ cổ truyền Việt Nam đã được sản xuất tại vùng mà nay thuộc làng Chu Đậu
và làng Mỹ Xá, thuộc các xã Minh Tân và Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh
Hải Dương.
Loại gốm sứ này thường được nhắc đến với tên gốm Chu Đậu là do lần đầu
tiên người ta khai quật được các di tích của dòng gốm này ở Chu Đậu. Sau
này, khi khai quật tiếp ở Mỹ Xá (làng bên cạnh Chu Đậu) thì người ta phát
hiện ra khối lượng di tích còn đa dạng hơn và có một số nước men người ta
không tìm thấy trong số các di tích khai quật được tại Chu Đậu.Gốm Chu Đậu
là dòng gốm nổi tiếng vì màu men và họa tiết thuần Việt. Nó đã từng xuất
khẩu sang nhiều nước châu Âu. Năm 1997 sau khi tìm dược rất nhiếu gốm
Chu Đậu trong con tàu đắm ở Cù Lao Chàm (Nghệ An)của người Bồ Đào
Nha dòng gốm này mới được biết đến và nổi tiếng.
Tại Mỹ Xá có gia phả dòng họ 14 đời có ghi câu "...tổ tiên...lấy nghề
nung bát làm nghiệp". Câu này hiện được lưu lại trong bảng ghi lịch sử dòng
gốm sứ này tại Xí nghiệp gốm sứ Chu Đậu.
Du lịch Hải Dương – Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển
Nguyễn Thị Thương – VHL201 37
Cả hai vùng Mỹ Xá và Chu Đậu đều coi ông Đặng Huyền Thông,
người Hùng Thắng, Minh Tân là ông tổ (đã biết) của dòng gốm sứ này.Mới
đây các nhà khảo cổ đã khẳng định bà Bùi Thị Hý là tổ nghề gốm Chu Đậu.
Dòng gốm sứ này có thể đã được hình thành và phát triển trong khoảng
từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII. Có nguồn nói, nó bị hủy diệt do chiến tranh
Lê-Mạc cuối thế kỷ XVI.
Chu Đậu - một trong những làng gốm cổ nhất Việt Nam ( Nam Sách -
Hải Dương). Gốm Chu Đậu thuộc hàng gốm mỹ nghệ cao cấp được sản xuất
từ thời Lý, Trần, Mạc cho đến thế kỷ XVII. Đặc trưng nhất của gốm Chu Đậu
là màu men, kiểu dáng, các tiết hoạ tinh xảo. Người xưa thường ví gốm Chu
Đậu “sáng như gương, trong như ngọc, trắng như ngà, mỏng như giấy, kêu
như chuông”. Những nét vẽ sóng nước Bình Than, kiểu dáng hoa văn mang
tính triết lý Á Đông sâu sắc, thể hiện đẳng cấp quý phái của những bậc chính
nhân quân tử, nâng tầm văn hoá người Việt. Cũng xuất phát từ những văn hoá
gốm đó, người ta đọc được tình cảm ước nguyện của người Việt Nam. Từ
những khối đất vô tri, vô giác giờ được thăng hoa thành con người thật, cuộc
sống thật, chan hoà tình thương yêu... thể hiện vẻ đẹp thuần khiết văn hoá
Việt, khiến cho các nước trên thế giới phải nghiêng mình và xem trọng gốm
sứ văn hoá người Việt. Gốm Chu Đậu ngày nay không sản xuất đồng loạt,
dùng máy in hình vào các sản phẩm gốm mà hướng về nghệ thuật của tiền
nhân. Mỗi hình vẽ, mỗi bức tranh trên gốm là một sự tích, một câu chuyện
đậm chất thần thoại, dân gian xưa kia và còn phải sán...
Kết nối đề xuất:
Nơi này có anh English Lyrics
Synonym dictionary
Advertisement
Advertisement