Chia sẻ luận văn, luận án, tiểu luận văn học xã hội miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do Ketnooi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên Ketnooi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
#979238 Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết nối

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người bị nhiễm chất độc hóa học là một trong những vấn đề đang nhận
được nhiều sự quan tâm không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn trên toàn thế
giới. Theo con số thống kê của Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội ở Việt
Nam có 4,8 triệu người bị phơi nhiễm chất da cam, trong đó có 3 triệu người
là nạn nhân chất độc da cam và 150.000 trẻ em- con của những người tham
gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học bị dị tật bẩm sinh trực tiếp từ hậu
quả của chất độc da cam/dioxin [38.2.1]. Nguyên nhân gây nên tình trạng này
chính là do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ hậu quả của chiến tranh và dự
báo trong nhiều năm tới số lượng người bị nhiễm chất độc hóa học ở Việt
Nam vẫn chưa phải đã chấm dứt hẳn.
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và triển khai nhiều
hoạt động nhằm trợ giúp cho những người bị nhiễm chất độc hóa học, đặc biệt
là con đẻ của họ như xây dựng chính sách mới, thành lập các trung tâm nuôi
dưỡng, điều dưỡng người có công, trung tâm phục hồi chức năng, trung tâm
dạy nghề… Nhiều chính sách, chế độ ưu đãi được thực hiện đã có những hỗ
trợ hữu ích cho người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất
độc hóa học trong đời sống hằng ngày, nhất là trong việc phục hồi chức năng
và hướng nghiệp dạy nghề.
Làng Hữu Nghị Việt Nam được xây dựng để nuôi dưỡng, chăm sóc,
chữa trị, dạy nghề, phục hồi chức năng có thời hạn cho một số người hoạt
động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học trong thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ cứu nước và con của những cựu chiến binh bị khuyết tật do hậu quả của
chất độc hóa học gây ra. Mặc dù đây là Làng Hữu Nghị lớn nhất của Việt
Nam, có đội ngũ cán bộ giáo viên tâm huyết với nghề, là trung tâm áp dụng
mô hình hoạt động giáo dục, dạy nghề cho trẻ khuyết tật khá hiệu quả nhưng
bên cạnh những hoạt động đã làm được thì việc quan tâm đến các vấn đề tâm
lý, hỗ trợ nhóm đối tượng này như: chế độ ăn uống, chữa trị phục hồi chức
năng, học nghề, tìm kiếm việc làm… vẫn chưa được nhìn nhận và đánh giá
đúng đắn trong khi số lượng người bị nhiễm chất độc hóa học ở Việt Nam
hiện nay lại quá đông và các kiến thức, kỹ năng mang tính bài bản chuyên
nghiệp của của cán bộ, nhân viên trong làng Hữu Nghị - với tư cách là một
nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp lại còn nhiều hạn chế...
Tất cả những vấn đề trên đã gợi lên trong chúng tui hướng nghiên cứu:
“Tìm hiểu hoạt động mô hình hỗ trợ phục hồi chức năng và hướng
nghiệp dạy nghề cho trẻ nhiễm chất độc hóa học hiện nay đang sống tại Làng
Hữu Nghị Việt Nam xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước chính vì vậy các em là một
trong các nhóm đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên
cứu, các nhà khoa học, các chuyên gia từ trong nước đến quốc tế. Trong phạm
vi nghiên cứu này tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài
viết tiêu biểu về trẻ em nói chung và trẻ em nhiễm chất độc hóa học nói riêng.
Khi nói đến các các tổ chức quốc tế chuyên nghiên cứu về trẻ em thì
trước tiên mọi người thường nghĩ tới các công trình của UNICEF. Đây là tổ
chức có uy tín, đi đầu thế giới trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em trên phạm
vi toàn cầu.
Năm 2009 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với
UNICEF tiến hành nghiên cứu và xây dựng tài liệu “xây dựng môi trường bảo
vệ trẻ em Việt nam đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt
là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam”. Tài liệu này đã trình bày một
cách tổng quan về tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em dễ bị tổn
thương ở Việt Nam, các hoạt động phòng ngừa sơ cấp và thứ cấp để bảo vệ
trẻ em ở Việt Nam. Cuốn sách này đã phân tích các quy định của quốc tế, tiêu
chuẩn quốc tế trong việc chăm sóc từng nhóm trẻ em, hệ thống luật pháp,

chính sách và hoạt động thực tiễn chăm sóc các nhóm trẻ em, các hoạt đông
trợ giúp chăm sóc về y tế và phục hồi... Trong số các phân tích về về xây
dựng môi trường bảo vệ các nhóm trẻ em thì phân tích về nhóm trẻ khuyết tật
được phân tích khá kỹ. Phân tích này đã chỉ ra quyền của trẻ em khuyết tật, hệ
thống luật pháp, chính sách hỗ trợ trẻ em khuyết tật của Việt Nam, những
dịch vụ chăm sóc y tế và phục hồi đối với các em, chính sách giáo dục đối với
trẻ khuyết tật, các hoạt động trợ giúp cho gia đình các em, vấn đề chăm sóc
thay thế và dạy nghề và tạo việc làm cho các em khuyết tật. Có thể, nói với
những phân tích chi tiết và cụ thể này cuốn tài liệu hướng dẫn đã chỉ ra thực
trạng, đưa ra những khuyến nghị sát với thực tế để việc chăm sóc bảo vệ trẻ
em khuyết tật nói riêng và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tốt hơn [5].
Năm 2010 UNICEF tiến hành thực hiện“Báo cáo Phân tích tình hình
trẻ em ở Việt Nam”. Báo cáo lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem
xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con
người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình. Kết
quả nghiên cứu đã làm rõ tình hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và thành thị,
dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ em giàu và trẻ em cùng kiệt hiện nay ở Việt
Nam. Trong đó, nhóm trẻ em thiếu sự chăm sóc của bố mẹ ở Việt Nam có
diễn biến phức tạp. Các cơ sở chăm sóc cả công lập và dân lập có ở hầu hết
các tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà, chăm
sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính thức khác. Tình
trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là
biện pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác. Ngoài ra, báo
cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố
những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật. Báo
cáo còn chỉ ra nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới ở trẻ em, sự bất
cập trong chăm sóc, giáo dục trẻ em ở Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở đó
báo cáo đưa ra khuyến nghị là cần lồng ghép vấn đề giới vào các chính
sách, chiến lược và các hoạt động thực tiễn, và sử dụng các số liệu phân tổ để
giám sát vấn đề bình đẳng giới. Bình đẳng giới, đặc biệt là bình đẳng giới cho
trẻ em gái dân tộc thiểu số vẫn chưa được quan tâm đầy đủ [35].
Tháng 5 năm 2013 Báo cáo tình hình Trẻ em thế giới năm 2013 của
UNICEF với chủ đề: Trẻ em Khuyết tật cho biết trẻ em khuyết tật là nhóm ít
có khả năng được chăm sóc y tế hay được đi học nhất. Báo cáo này chỉ ra trẻ
khuyết tật và cộng đồng sẽ được lợi nhiều hơn nếu xã hội quan tâm tới những
gì trẻ khuyết tật có thể đạt được thay vì tập trung chú ý vào những khiếm
khuyết của các em. Quan tâm đến những khả năng và tiềm năng của trẻ
khuyết tật sẽ tạo ra lợi ích cho toàn xã hội. Báo cáo chỉ ra những cách thức để
hòa nhập trẻ khuyết tật vào xã hội bởi vì khi các em được tham gia đầy đủ vào
xã hội thì tất cả mọi người đều có lợi. Ví dụ, giáo dục hòa nhập mở mang tri
thức cho mọi trẻ em và đồng thời mang lại cho trẻ em khuyết tật cơ hội thực
hiện hoài bão của mình. Rút cuộc trẻ em khuyết tật trở thành những người yếu
thế nhất trên thế giới. Trẻ em cùng kiệt thuộc nhóm ít có khả năng được đi học
hay chăm sóc y tế nhưng các em vừa cùng kiệt lại vừa khuyết tật thì còn có ít
khả năng hơn nữa trong việc tiếp cận các dịch vụ này. Giới là một yếu tố quan
trọng, vì trẻ em gái khuyết tật thường ít được nhận thức ăn và sự chăm sóc
hơn trẻ em trai khuyết tật.
Báo cáo kêu gọi các Chính phủ phê chuẩn và thực hiện Công ước về
Quyền của Người khuyết tật và Công ước Quyền Trẻ em, và có những hỗ trợ
cho các gia đình để họ có thể đáp ứng được các chi phí thường cao hơn mức
bình thường trong chăm sóc trẻ em khuyết tật. Đồng thời, báo cáo cũng kêu
gọi các biện pháp chống phân biệt đối xử trong cộng đồng, những nhà hoạch
định chính sách và những người cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục
và y tế [36].
Ngoài các nghiên cứu của UNICEF còn có nhiều công trình nghiên cứu
về trẻ em của các tác giả trong nước được đánh giá cao. Trong số các tác giả
Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
#1009755 Link mới update, mời bạn xem lại bài đầu để tải
Kết nối đề xuất:
Đọc Truyện online