Chia sẻ luận văn, luận án, tiểu luận văn học xã hội miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí
By sinhvien_kt
#978077 Link tải luận văn miễn phí cho ae
Luận văn ThS. Châu Á học -- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010
Bối cảnh xuất hiện hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan: xem xét về mặt kinh tế và hợp tác lao động; về mặt pháp luật; về mặt xã hội phía Việt Nam và phía Đài Loan. Thực trạng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan, qua nghiên cứu: Số lượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan từ năm 1995 đến nay; Những con đường kết hôn giữa nữ Việt Nam và nam Đài Loan và chất lượng của các cuộc hôn nhân dưới mỗi hình thức; Đặc điểm cô dâu Việt Nam và chú rể Đài Loan; Hệ quả của vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan. Trình bày những chính sách, phương hướng giải quyết và các khuyến nghị đối với các cuộc hôn nhân giữa nữ Việt Nam và nam Đài Loan
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong bối cảnh quốc tế hóa, toàn cầu hóa, Việt Nam không ngừng mở
rộng quan hệ giao lưu kinh tế, văn hóa với các quốc gia và các vùng lãnh thổ
trên thế giới. Cùng với việc mở rộng các mối quan hệ này, sự trao đổi, giao
lưu, qua lại giữa Việt Nam và các nước trên thế giới ngày càng được tăng
cường, quan hệ hôn nhân giữa người dân Việt Nam với các nước khác, trong
đó có Đài Loan cũng vì thế mà được tăng lên. Xu hướng chủ yếu trong hôn
nhân có yếu tố nước ngoài là các cô gái Việt Nam kết hôn với nam giới mang
quốc tịch các quốc gia khác, và trong luận văn này là vấn đề kết hôn của các
cô gái Việt Nam với nam giới Đài Loan. Trên thực tế, đây là một xu thế tất
yếu của thời đại, điều “bất bình thường” chính là ở chỗ rất nhiều các cặp vợ
chồng Việt – Đài này đi đến kết hôn không phải dựa trên những quy luật hôn
nhân thông thường – dựa trên cơ sở tình yêu và khoảng thời gian tìm hiểu cần
thiết. Và những hệ lụy mà những cuộc hôn nhân kiểu này mang lại cũng
không phải là nhỏ. Tại sao mảnh đất Đài Loan lại có sức hấp dẫn với các cô
gái Việt Nam như vậy? Liệu những cuộc hôn nhân của các cô gái Việt Nam
và những chàng trai Đài Loan có mang lại hạnh phúc thực sự cho những
người trong cuộc? Đó chính là lý do đầu tiên thu hút sự tò mò và quan tâm
của tui đối với một đề tài mang tính chất xã hội này.
Các cuộc hôn nhân giữa nữ Việt Nam và nam Đài Loan không phải
bây giờ mới có mà đã xuất hiện cách đây hơn chục năm, nhưng cho đến nay
vẫn là một chủ đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm của báo giới. Bên cạnh
những cuộc kết hôn của nữ giới Việt Nam với nam giới Hàn Quốc, vấn đề kết
hôn của các cô gái Việt Nam với nam giới Đài Loan đã được phản ánh rất
nhiều trên các trang báo, và đa phần đều là những cuộc hôn nhân bất hạnh.
Vậy thực chất của các cuộc hôn nhân này ra sao? Những gì được phản ánh
qua báo chí có hoàn toàn là sự thật? Đó cũng là một vấn đề cần được sự quan
tâm và lý giải đầy đủ.
Trong quá khứ, người dân Việt Nam vẫn còn ít nhiều những dị ứng về
tình trạng hôn nhân dị tộc, dị chủng. Không ít sự khó chịu, chê bai, thậm chí
cả sự khinh bỉ khi những cô gái Việt Nam lấy chồng ngoại quốc, dù đó là một
nước châu Á, châu Âu hay Mỹ. Có thời những phụ nữ này được gọi là “me
Tây”, “me Mỹ”… Phần lớn những phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước
ngoài đã rời bỏ Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tuy nhiên trong xã hội mở
cửa như ngày nay, cách nhìn của người dân về những cuộc hôn nhân với
người nước ngoài ngày càng thông thoáng, cởi mở hơn, đồng thời cũng có cái
nhìn đồng cảm, bênh vực đối với những người phụ nữ này. Vì vậy, khi mà
hình ảnh của những cô gái này bị xâm phạm, bị bôi nhọ thì nó đã trở thành
một vấn đề của quốc gia, của dân tộc chứ không chỉ đơn thuần là vấn đề của
cá nhân nữa. Từ sau khi trào lưu phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan diễn ra
rầm rộ, đã có không ít thông tin về việc tuyển các cô dâu thông qua các “chợ
vợ” cho người nước ngoài xem mặt, hay việc các cô dâu bị xâm phạm tình
dục, bị giết hại, bị bán vào các nhà chứa, bị chồng hành hạ, đánh đập… Chắc
chắn trong chúng ta ai đã từng biết qua các thông tin này đều không thể làm
ngơ. Và đó cũng là một trong những lý do thôi thúc tui đi sâu tìm hiểu thực
trạng của những cuộc hôn nhân Việt – Đài này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan là vấn đề đã diễn ra sôi
nổi cách đây hàng chục năm, tuy nhiên những công trình nghiên cứu hệ thống
về nó lại chưa nhiều, đa phần chỉ dừng lại ở những bài báo, tạp chí chỉ phản
ánh được một phần thực trạng của vấn đề.
Đáng chú ý nhất là năm 2004 Sở Khoa học - công nghệ thành phố Hồ
Chí Minh thực hiện đề tài Nghiên cứu hôn nhân giữa người Việt Nam với
người Đài Loan - Thực trạng, xu hướng và giải pháp, do GS. Phan An (Viện
Khoa học xã hội vùng Nam bộ) làm chủ nhiệm. Theo các tài liệu của ông,
hiện nay tại Đài Loan đã có khoảng 90 ngàn cô dâu Việt - chiếm 70% cô dâu
nước ngoài tại đây, trung bình cứ 80 gia đình Đài Loan thì có 1 cô dâu Việt
[36, tr. 5]. Số cô dâu Việt Nam phần lớn đến từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long, sống ở nông thôn, lao động nông nghiệp, trình độ học vấn không cao và
53,8% kết hôn với người Đài Loan thông qua hoạt động môi giới [26, tr. 8].
Đa phần trong số họ đều quyết định lấy chồng Đài Loan vì mục đích kinh tế,
mong muốn được “đổi đời”, trong khi bản thân lại thiếu những kiến thức cần
thiết để chuẩn bị cho việc lấy chồng nước ngoài. Và khi sang đến Đài Loan,
những cô dâu này đã gặp phải muôn vàn khó khăn từ những rào cản ngôn ngữ
bất đồng, định kiến xã hội đến vấn đề nhập quốc tịch, vấn đề hôn nhân không
hạnh phúc, nạn nhân của nạn bạo hành và nô lệ tình dục. Từ đó nhóm nghiên
cứu của ông đã đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục tình trạng
trên. Công trình nghiên cứu của GS. Phan An cùng đội ngũ nghiên cứu của
ông là một công trình nghiên cứu công phu, được tiến hành dựa trên cơ sở
khảo sát thực tế. Công trình này đã đưa ra được một cách toàn diện từ nguyên
nhân, thực trạng cho đến những giải pháp khắc phục hiện trạng phụ nữ Việt
Nam lấy chồng Đài Loan. Tuy nhiên cách nhìn của ông về vấn đề này
nghiêng hẳn về tính chất tiêu cực cũng như đa phần đều “đổ lỗi” cho các cô
gái, trong khi trách nhiệm của Nhà nước cũng có một phần không nhỏ. Bên
cạnh đó những hệ quả để lại cũng chỉ tập trung ở những mặt trái mà không có
những giá trị tích cực.
Bản tham luận của thạc sĩ xã hội học Trần Hồng Vân Vấn đề kết hôn
của nữ Việt Nam với nam Đài Loan: Thực trạng – Hệ quả - Giải pháp tại hội
thảo quốc tế Việt Nam học (14 đến 17/07/2004 tại thành phố Hồ Chí Minh)
đã được nhiều người quan tâm khi vấn đề này đang trở thành một hiện tượng
xã hội nóng bỏng. Bà đã giải thích nguyên nhân làm cho số lượng các cuộc
hôn nhân Việt - Đài gia tăng một cách nhanh chóng là do chính sách phát
triển và mức đô thị hoá cao của Đài Loan đã khiến số thanh niên nông thôn
trở thành những người có thu nhập thấp về kinh tế. Mặt khác, ở Đài Loan, tỉ
lệ phụ nữ có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên nhiều hơn nam giới. Do ảnh
hưởng của tư tưởng truyền thống, con gái Đài Loan thường muốn chồng mình
phải có trình độ học vấn cao hơn hay ít nhất bằng mình. Ngược lại, con trai
Đài Loan cũng không muốn mình kém cỏi hơn vợ. Từ đặc điểm này đã tạo
“lực đẩy” nam Đài Loan lấy vợ nước ngoài, trong đó có Việt Nam. Ở Việt
Nam, một bộ phận phụ nữ, nhất là ở nông thôn, đa số tuổi còn trẻ, chưa có
việc làm ổn định, lại có kỳ vọng vào những cuộc hôn nhân với người nước
ngoài vì mục đích kinh tế… Một yếu tố khác không thể bỏ qua là tâm lý
hướng về nguồn cội của những phụ nữ Việt gốc Hoa (phụ nữ dân tộc Hoa lấy
chồng Đài Loan chiếm trên 40% tổng số phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài
Loan [22, tr. 3]). Đó là những “lực hút” người phụ nữ Việt Nam tìm chồng
Đài Loan. Hiện tượng này đã dẫn đến một loạt những hệ quả cho xã hội. Đầu
tiên phải kể đến là hệ quả đối với quá trình di cư quốc tế và di chuyển lao
động. Tiếp đó là hệ quả đối với việc ổn định và phát triển đời sống kinh tế -
văn hóa - xã hội của các cặp vợ chồng Việt - Đài và hệ quả xã hội xét trên
quan điểm giới và sự phát triển. Bản tham luận này đã khai thác vấn đề ở một
góc độ khác hơn, đặc biệt ở phần hệ quả đã khai thác vấn đề ở tầm cao hơn đó
chính là đặt nó trong quan điểm về giới và vấn đề lao động.
Báo cáo tham luận của thạc sĩ Trịnh Thị Bích (Sở Tư pháp thành phố
Hồ Chí Minh) ngày 6/06/2003 nêu rõ: năm 2000 có 32.000 cô dâu Việt Nam,
chiếm tỉ lệ 46,3% cô dâu nước ngoài ở Đài Loan, 85% cô dâu Việt Nam lấy
chồng qua “cò” [34, tr. 8].
Bên cạnh đó là một loạt những bài báo nhận định về tình hình này:
Báo Phụ nữ Việt Nam ra ngày 24/07/2003 trong bài Ai bảo vệ những phụ nữ
lấy chồng nước ngoài đã trích dẫn những số liệu đáng chú ý, như số liệu
nghiên cứu của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Cần Thơ về vấn đề phụ nữ Cần Thơ
lấy chồng Đài Loan. Nguyên nhân đều bắt nguồn từ kinh tế: 78,94% do gia
đình gặp khó khăn, 66,5% do thất nghiệp, 62,56% do cần tiền để giải quyết
khó khăn trước mắt, 60,56% do trình độ hạn chế, thiếu hiểu biết và đáng lưu ý
là có 47,1% do tâm lý thích lấy chồng ngoại [39, tr. 9]. Còn những bài báo
phản ánh tình trạng của các cô dâu Việt Nam nơi đất khách quê người có số
lượng tương đối lớn: Thực trạng lấy chồng Đài Loan ở các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long trên Báo Phụ nữ ngày 25/09/2002, Chồng gần không lấy, lấy
chồng xa… trên báo Tuổi trẻ ngày 19/11/2003, Đài Loan: 90% cô dâu Việt
chưa được nhập quốc tịch trên báo Tiền phong ngày 25/05/2005, Một cô dâu
Việt Nam ở Đài Loan bị ngược đãi 6 năm liền trên báo Tiền phong ngày
29/09/2006, “Bến trong, bến đục” ở Đài Loan trên báo Sài Gòn giải phóng
ngày 14/11/2006… Có một số bài báo đã nêu ra một vài giải pháp nhằm giải
quyết thực trạng này, như bài của tác giả Diễm Chi đăng trên báo Phụ nữ chủ
nhật số 36, ngày 22/09/2002 đã nêu vấn đề thành lập các trung tâm tư vấn - hỗ
trợ kết hôn và “hy vọng sự ra đời của một trung tâm như vậy sẽ giải quyết
được những chuyện tiêu cực trong kết hôn giữa người Việt Nam và người
nước ngoài nói chung, giữa người Việt Nam và người Đài Loan nói riêng”
[10, tr. 7].
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan. Đi
sâu vào từng vấn đề là bối cảnh diễn ra hiện tượng trên, thực trạng của các
cuộc hôn nhân này và giải pháp để khắc phục những khó khăn, bất cập của

Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement