Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
Hình đại diện của thành viên
By daigai
#1000498 Link tải luận văn miễn phí cho ae

A. LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007 quả là một năm sôi động của ngành du lịch Việt Nam với các con số tăng trưởng ấn tượng và nhiều sự kiện đáng nhớ.
Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, lượng du khách quốc tế đến Việt Nam năm 2007 tăng 17% so với năm trước, có 47 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn hơn 1,8 tỉ USD, tăng xấp xỉ 200% so với năm 2006.
Hình ảnh Việt Nam xuất hiện trên truyền thông quốc tế cũng nhiều hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, điều mà ngành du lịch cũng như mọi ngành khác đều hướng đến là sự phát triển mang tính bền vững thì vẫn còn nhiều điều đáng bàn. Đầu năm 2008, Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần ghi lại một số nhận định của những người làm du lịch như một gợi mở về hoạt động của ngành dịch vụ này trong tương lai.
Tuy nhiên chắc không ai dám khẳng định du lịch Việt Nam đã phát triển bền vững vì còn nhiều việc chúng ta làm chưa tốt, đặc biệt là sản phẩm du lịch. Chẳng hạn các hoạt động vui chơi chủ yếu là ăn uống chứ chưa tạo được không khí, màu sắc văn hóa địa phương. Chưa có sự đầu tư đúng mức để tạo ra những sản phẩm hấp dẫn, nhất là những chương trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc chuyên dành cho du khách nước ngoài. Có những thế mạnh mà chúng ta chưa khai thác được như du lịch sông nước. Nếu xây dựng được công viên bờ sông ở bến Bạch Đằng, tổ chức tốt các lễ hội sông nước với các trò chơi, đua thuyền… thì chắc chắn sẽ thu hút được nhiều du khách.
Khi kinh tế phát triển mạnh, tất nhiên du lịch cũng tăng theo, nhất là khách trong nước, nhưng do chưa có chính sách dài hạn, cụ thể, nhất là về đầu tư con người, khách sạn và điểm đến nên sự phát triển như vậy chưa thể gọi là bền vững. Du lịch Việt Nam vẫn chỉ khai thác những gì có sẵn và đang bị giảm sức cạnh tranh.
Sự tác động của môi trường kinh doanh có ảnh hưởng rất quan trọng đối với sự phát triển của du lịch nói chung và các công ty du lịch nói riêng. Các doanh nghiệp cần có những chính sách phát triển hợp lý để có thể đứng vững trên thị trường ngày càng khốc liệt. Đây là một vấn đề cấp bách và cần được quan tâm đến.



B. NỘI DUNG

I. PHẦN LÝ THUYẾT

1. Môi trường vĩ mô

Môi trường kinh doanh là một khung cảnh bao trùm lên hoạt dộng kinh doanh. Nó bao gồm tổng thể các nhân tố mang tính khách quan và chủ quan, vận động và tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp. Sự tác động này có thể gây cản trở cho kinh doanh.
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
- Bản thân kinh doanh là một quá trình vận động trong một môi trường cũng không ngừng vận động. Bởi vậy mọi sự mô phỏng, tĩnh tại chỉ là tương đối theo từng mục đích nghiên cứu.
- Các nhân tố cấu thành môi trường kinh doanh vừa tự vận động lại vừa tác động qua lại với nhau trở thành ngoại lực chính cho sự vận động và biến đổi của môi trường kinh doanh.
- Các nhân tố của môi trường rất đa dạng và phong phú. Do đó, việc nghiên cứu đòi hỏi phải sử dung nhiều cách tiếp cận, nhiều phương pháp khác nhau.
- Doanh nghiệp không chỉ chịu sự tác động của môi trường kinh doanh mà chính nó lại sản sinh ra các tác nhân làm thay đổi đến môi trường kinh doanh.
Như vậy, có thể thấy rằng môi trường kinh doanh là một phạm trù rất rộng vừa cụ thể lại vừa trừu tượng. Chúng có mối quan hệ trực tiếp hay gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chịu tác động của môi trường kinh doanh. Do vậy, một doanh nghiệp phải hiểu được sự tác động này, trong đó tác động nào là tích cực, tác động nào là tiêu cực, mạnh hay yếu và thời gian tác động cũng như tính quy luật của sự tác động đó tới doanh nghiệp đó như thế nào? Khi chưa hiểu được toàn bộ những nhân tố đó thì doanh nghiệp khó có thể hình dung được chính xác con đường đi của mình để có thể đạt được mục tiêu cuối cùng của mình là lợi nhuận.
Kinh doanh trong cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy luật khách quan và điều chỉnh các hoạt động chủ quan của mình sao cho đạt được các mục tiêu đã đề ra. Một mặt, doanh nghiệp phải thông qua các quan hệ cung - cầu, sức cạnh tranh và mức giá của thị trường. Mặt khác, các doanh nghiệp phải căn cứ vào các giới hạn cho phép của môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật, công nghệ… cũng như môi trường nội bộ bản thân doanh nghiệp để tồn tại và phát triển lâu dài. Hay nói một cách khác, không có doanh nghiệp nào có thể tồn tại một cách biệt lập, mà chúng luôn chịu sự tác động của môi trường kinh doanh.
Môi trường kinh doanh sẽ tạo cơ hội thuận lợi nếu các doanh nghiệp có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn, nghiên cứu tỉ mỉ để nắm bắt thời cơ. Ngược lại, nếu không có sự đầu tư, quan tâm thích đáng, doanh nghiệp sẽ không tận dụng được yếu tố tích cực của môi trường. Chính vì thế nghiên cứu môi trường kinh doanh là công việc không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

a. Yếu tố kinh tế

Các yếu tố kinh tế có tác động rất lớn đến kinh doanh du lịch, yếu tố kinh tế còn bao hàm bên ngoài (khu vực và thế giới) và bên trong. Trong nhóm các yếu tố kinh tế thì trực tiếp ảnh hưởng đến du lịch đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế, kéo theo thu nhập của dân cư và cuối cùng dẫn đến sự tác động vào nhu cầu du lịch, bởi vì đối tượng tiêu dùng trong du lịch trước hết là tầng lớp có thu nhập cao.
Năm 2008 là thời điểm đánh giá nửa chặng đường thực hiện kế hoạch kinh tế 2006- 2010. Tuy nhiên, thời điểm đánh giá cũng là lúc nền kinh tế gặp những khó khăn do lạm phát cũng như tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tốc độ phát triển kinh tế không những không đạt như kì vọng mà sự giảm sút còn trở thành nhân tố kéo tụt thành quả đạt được của 2 năm trước đó.
Số liệu thống kê của Bộ KH- DT cho thấy, trong 2 năm 2006- 2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt cao hơn, năm 2006 tăng 8.23%, năm 2007 là 8.4%. Tuy nhiên năm 2008 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và khó khăn kinh tế trong nước nên mức tăng trưởng chậm lại và đoán cả năm chỉ ở mức 6.5- 7%.
Với tốc độ của năm 2008, bình quân tốc độ tăng trưởng GDP cả 3 năm 2006 đến 2008 dự kiến chỉ đạt 7.8%/năm so với kế hoạch đề ra là 7.5-8% cho cả giai đoạn. Tuy vẫn nằm trong khoảng chỉ tiêu đề ra nhưng rõ rang, tốc độ tăng trưởng cao của những năm trước đã không được duy trì và thậm chí bị kéo chậm lại do sự sụt giảm mạnh trong năm 2008
Theo nhận định của Bộ KH-DT, năm 2009 Việt Nam sẽ tiếp tục sẽ gánh chịu những khó khăn từ khủng hoảng tài chính Mỹ đang lan rộng ra toàn cầu. Điều này khiến cho nến kinh tế toàn cầu tiếp tục giảm, điều này ảnh hưởng hầu hết các nền kinh tế trong đó có Việt Nam, nhất là các lĩnh vực xuất khẩu, đầu tư…
Trong nước, nền kinh tế sẽ tiếp tục gánh chịu ảnh hưởng lạm phát cao từ năm 2008, các cân đối vĩ mô chưa ổn định, sức cạnh tranh nền kinh tế thấp, các doanh nghiệp khó khăn do lạm phát, hoạt động tài chính ngân hang còn nhiều rủi ro… sẽ ảnh hưởng rất bất lợi đến việc duy trì tăng trưởng kinh tế cao cho năm 2009 và năm tiếp theo trong kế hoạch 2006-2010. Vì thế các chuyên gia dự đoán, tăng trưởng kinh tế năm 2009 có thể chỉ dừng lại ở mức 6.5% và cố gắng đạt 7.4-8% vào 2010
Trong định hướng phát triển cho 2 năm 2009-2010, lạm phát vẫn là yếu tố đầu tiên được tính đến, vì thế các chuyên gia đã đề xuất. Việt Nam vẫn tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát theo hướng giảm dần đến 2010 đưa lạm phát xuống 1 con số, ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.

b. Yếu tố tự nhiên:

Yếu tố tự nhiên của mỗi quốc gia là tài sản vô giá đối với việc phát triển du lịch của đất nước.đó là các danh lam thắng cảnh, cảnh quan môi trường, điều kiện địa lý như:sông ngòi, địa hình, khí hậu,điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên…đây chính là cốt lõi của các điểm du lịch, là sức hút mạnh mẽ nhất, là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn cho nơi đến du lịch.
 các doanh ngiệp cần chú ý việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý tránh lãng phí, hủy hoại tài nguyên, hoạt động kinh doanh phải gắn với hoạt động bảo vệ môi trường. mục tiêu phát triển bền vững.
Với Việt Nam thì yếu tố này có tiềm năng đáng kể so với khu vực và trên thế giới

• Vị trí địa lý:
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam châu Á. Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này; ngoài ra, Việt Nam khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ của mình. Việt Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1.281 km), Lào (2.130 km) và Campuchia (1.228 km) và bờ biển dài 3.444 km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, biển Đông và vịnh Thái Lan.
Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn.Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ở miền nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 3) và khí hậu gió mùa ở miền bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông). Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hòa một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển

- Bốn vùng núi chính
+ Vùng núi Đông Bắc (còn gọi là Việt Bắc). Kéo dài từ thung lũng sông Hồng đến vịnh Bắc Bộ.
+ Vùng núi Tây Bắc
Kéo dài từ biên giới phía bắc (giáp Trung Quốc) tới phía tây tỉnh Thanh Hoá.
+ Vùng núi Trường Sơn Bắc
Từ phía tây tỉnh Thanh Hóa đến vùng núi Quảng Nam - Đà Nẵng, có vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, di sản văn hóa thế giới (Quảng Bình) và những đường đèo nổi tiếng như đèo Ngang, đèo Hải Vân... Đặc biệt, có đường mòn Hồ Chí Minh được thế giới biết đến nhiều bởi những kỳ tích của người Việt Nam trong cuộc kháng chiến vĩ đại lần thứ hai.
+ Vùng núi Trường Sơn Nam
Nằm ở phía tây các tỉnh Nam Trung Bộ. Thành phố Đà Lạt - nơi nghỉ mát lý tưởng được hình thành từ cuối thế kỷ 19.
- Hai đồng bằng lớn
+ Đồng bằng sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ)
Rộng khoảng 15.000km² được bồi đắp bởi phù sa của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Thái Bình. Đây là địa bàn cư trú của người Việt cổ và cũng là nơi hình thành nền văn minh lúa nước.
+ Đồng Bằng sông Cửu Long (đồng bằng Nam Bộ)
Rộng trên 40.000km², là vùng đất phì nhiêu, khí hậu thuận lợi. Đây là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam.

Link Download bản DOC
Password giải nén nếu cần: ket-noi.com | Bấm trực tiếp vào Link tải, không dùng IDM để tải:

Bấm vào đây để đăng nhập và xem link!
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement