Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By konkanguaru
#948276

Download miễn phí Luận văn Phân lập Micromonospora có khả năng sinh tổng hợp kháng sinh từ bùn hồ Bẩy Mẫu - Hà Nội





Hai chủng M16 và M30 có nhiều đặc điểm tương tự với M. chalcea (Ludemann & Brodsky 1964). Khuẩn lạc khi còn non có mầu hơi đỏ da cam, bề mặt gấp nếp sau đó chuyển màu nâu, nâu đen và đen do tạo bào tử. Bào tử không cuống hình thành nhiều sau 4 đến 5 ngày nuôi cấy nằm trên khuẩn ti cơ chất thành từng đám. Khuẩn ti dài, mỏng, phân nhánh không có vách ngăn. Khuẩn ti không bị cắt đoạn thành các hình thể khác nhau. Lớp bào tử ướt nhưng không nhầy, dễ lấy ra khỏi bề mặt thạch. Hai chủng đều phát triển tốt trên môi trường men tinh bột và tạo sắc tố mầu vàng nhạt. Trên môi trường thạch sữa có sắc tố vàng nâu, không tạo sắc tố đen trên môi trường ISP 6.

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


bị bệnh , ví dụ : Erikson (1935) đã tìm thấy Micromonospora gallica từ máu; Morquer và Comby (1943) đã ghi Micromonospora caballi gây bệnh cho da giống Actinomyces; Morch (1975) đã tìm thấy một chủng M .chalcea từ tổ chức, và chủng này gây bệnh trên da của chim bồ câu.
1.1.6 Sự tạo kháng sinh của Micromonospora:
Micromonospora có khả năng tạo kháng sinh thuộc nhiều nhóm khác nhau về mặt hoá học như: amynoglycosid, macrolid, ansamycin, polypeptid.
- Một số kháng sinh nhóm aminoglycosid:
Gentamycin do M.echinospora và M.purpurea.
(Weinstein & cộng tác 1963; Luedemann & Brodsky 1964).
Micromonosporin do M.sp ATCC 10026 (Wagman & cộng tác 1974).
Sisomycin do M.injoensis (Weinstein & cộng tác 1970).
Neomycin B do M.sp 69-638 (Wagman & cộng tác 1973).
Verdamycin do M.Gramisea (Weinstein & cộng tác 1975).
Fortimycin A & B do M. olivasterospora (Naro & cộng tác 1977; Kawamoto & cộng tác 1983).
- Một số kháng sinh nhóm Macrolid:
Megalomycin do M.megalomicea (Weinstein & cộng tác 1969).
Rosamycin do M.rosarria (Wagman & cộng tác 1972).
XK - 41 do M. inositola (Kawamoto & cộng tác 1974).
Juvenimycin do M. chalcea & izumensis (Hatano & cộng tác 1976).
M - 4365 do M.capillata (Furumai & cộng tác 1977).
Erythromycin B từ M. sp. 1225 (Marquez 1976).
- Một số kháng sinh nhóm ansamycin:
Halomicins do M.halophytica (Weinstein & cộng tác 1968; Luedemann & cộng tác 1970).
Rifamicin từ M. ellipsaspora 71372.
- Một số kháng sinh nhóm polipeptid:
Chalcidin do M. chalcea H85 (Gauze & cộng tác 1970).
Những nghiên cứu về phân loại trên quần thể Micromonospora. [5,7,9,12,14] :
- Wagman S.A (1961) đã nhận định trong các loài đặc chủng của Micromonospora các tính chất về hình thái là những tiêu chuẩn, ban đầu cho việc xác định loài. Các đặc tính sinh lý, sinh hoá như phân huỷ cellulose, khử nitrat cũng quan trọng. Mầu và hình dạng của khuẩn lạc không được coi là những đặc tính cơ bản, vì mầu của nó không cố định mà thay đổi từ vàng sang da cam, hồng, đỏ, nâu và đen. Các loài Micromonospora là hiếu khí hay kỵ khí. Chúng có thể sử dụng các nguồn nitrogen và carbon vô cơ, hữu cơ khác nhau. Wagman S.A đã chia chi Micromonospora thành 9 loài bao gồm:
M. chalcea M. parva M. coerulea
M. gallica M. fusca M.propionica
M. globosa M. elongata M. bicolo
- Sveshmikova và cộng tác năm (1970) đã nghiên cứu những loài Micromonospora từ đất bùn ở ngoại ô Moscow. Họ đã đưa ra 5 loài mới nhưng chỉ dựa trên rất ít đặc tính như sử dụng 6 nguồn carbon, sự tạo sắc tố trong môi trường và kiểu bào tử.
Nhưng theo họ tiêu chuẩn này cũng không luôn luôn ổn định.
- Singal và Solovieva (1974) cũng đã nghiên cứu khả năng sử dụng nguồn carbon của Micromonospora.Tuy nhiên không có những kết luận về phân loại từ những số liệu này.
- Luedemann (1970, 1971), sau những nghiên cứu chi tiết trên nhiều phân lập Micromonospora ông đã đưa ra nhiều tính chất hữu ích dễ phân biệt loài trong chi Micromonospora.
Theo ông ngoài sắc tố khuẩn ti màu da cam thì các endopigment luôn khác nhau (nâu, hồng, tím, xanh lá cây, xanh... ) các sắc tố hoà tan này rất có ý nghĩa.
Sự hình thành bào tử không luôn luôn là những đặc tính có giá trị nhưng cần dựa trên những kiểu khác nhau của hình thành bào tử để phân loại. Phổ sử dụng nguồn carbon cũng có ý nghĩa nhưng giá trị này không đủ cho việc xác định 1 loài. Tính chất chịu NaCl và sự phát triển trên miếng khoai tây acid và trung tính cũng là những đặc tính hữu ích cho phân loại. Tuy nhiên những chủng riêng biệt có sự thay về mức độ và một số tính chất. Đặc biệt là phổ sử dụng carbon có sự lặp lại thấp. Sự so sánh với chủng chuẩn là cần thiết nó giúp cho việc phân loại nhanh và chính xác.
- Ivanitskaya và cộng tác (1983) cũng đưa ra một số tính chất sinh lý, sinh hoá để xác định 3 loài mới của Micromonospora và người ta cũng đã tìm thấy có sự liên quan giữa sự tạo kháng sinh với một số đặc tính riêng về phân loại của Micromonospora.
Sổ tay định loại vi sinh vật của Bergey (1980) đã đưa ra khoá phân loại của chi Micromonospora bao gồm 14 loài hiếu khí và 2 loại kỵ khí trên cơ sở những đặc tính hình thái, sinh lý, sinh hoá của chúng.
- Szabó. Zsuzsa (1982) đã sử dụng phương pháp số học để phân loại quần thể Micromonospora của bùn hồ Bulaton (Hungari). Phương pháp này có tính ưu việt so với phương pháp phân loại truyền thống.
- Trong khoá luận này với khả năng và giới hạn về các thông tin cho phép chúng tui nghiên cứu phân loại 5 Micromonospora thay mặt theo khoá phân loại của Luedemann G.M (1969) và sổ tay định loại vi sinh vật của Bergey (1980) đồng thời đối chiếu với khoá phân loại của Waksman S.A (1961).
Có so sánh với các chủng chuẩn là:
Micromonospora chalcea ATCC 12452.
Micromonospora halophytica ssp halophytica ATCC 27596.
Micromonospora narashino ATCC 27331.
Phần 2. Thực nghiệm và kết quả
2.1 Nguyên liệu và phương pháp thực nghiệm
2.1.1 Nguyên liệu:
- Nguyên liệu để phân lập chủng, các mẫu bùn của hồ Bảy Mẫu- Hà Nội.
- Các môi trường nuôi cấy:
Các môi trường của Luedemann (1971) và Szabo’zsuzsa (1982) đã được sử dụng trong nghiên cứu.
- Chủng Micromonospora dùng trong nghiên cứu:
Chủng Micromonospora dùng trong nghiên cứu được phân lập từ các mẫu bùn hồ Bẩy Mẫu. Trên cơ sở phổ kháng khuẩn chúng tui đã chọn 5 chủng để nghiên cứu phân loại được ký hiệu là M14, M16, M26, M30, M47.
- Chủng vi sinh vật chỉ thị:
Gồm 9 vi khuẩn và 1 vi nấm.
- Vi khuẩn Gram (+):
Staphylococcus aureus ATCC 12228.
Bacillus pumilus NTCC 8241.
Bacillus subtilis ATCC 6633.
Sarcina lutea ATCC 9314.
- Vi khuẩn Gram (-) .
Escherichia coli ATCC 25922.
Salmonella typhi DT 220.
Shigella flexneri DT 112.
Proteus mirabilis BV 108
Pseudomonas aeruginosa VM 201.
- Vi nấm:
Candida albicans ATCC 10231 .
Các chủng vi sinh vật chỉ thị là chủng quốc tế hay được phân lập tại các viện nghiên cứu của Việt Nam.
2.1.2 Phương pháp thực nghiệm: theo Szabo zs. (1982) và Luedemann (1971)
2.1.2.1 Phương pháp lấy mẫu và phân lập chủng Micromonospora:
Bùn được lấy ở lớp bề mặt từ 0 ->15cm ở các vị trí cách bờ hồ: 5m;10m; 20m; 50m, sau đó được trộn đều để phân lập chủng. 10g bùn được hoà vào 90ml dung dịch K2Cr2O4 0,4%, lắc đều trong 2 giờ, pha loãng tiếp thành các nồng độ 10-2, 10-3, 10-4 cấy vào các môi trường phân lập sau:
- Môi trường men tinh bột: (MT1)
Tinh bột tan 20,0g.
Cao men 10,0g.
Thạch 18,0g.
Nước cất 1000,0ml
pH: 7 ± 0,2.
- Môi trường Gauze I: (MT 2).
Tinh bột tan 20,0g.
K2HPO4 . 7 H20 0,5g.
NaCl 0,5g.
MgSO4 . 7 H20 0,5g
KNO3 1,0g.
FeSO4 .7 H20 0,01g.
Thạch 18,0g.
Nước cất 1000,0ml
pH: 7 ± 0,2
Sau 5 đến 7 ngày nuôi cấy ở 280C đến 320C các khuẩn lạc Micromonospora hình thành. Dựa vào hình dạng mầu sắc khuẩn lạc, hệ sợi cơ chất đặc trưng để phân biệt Micromonospora với các khuẩn lạc vi sinh vật khác. Những khuẩn lạc sạch mọc riêng rẽ được cấy sang môi trường men tinh bột và môi trường Gauze I.
2.1.2.2 Phương pháp xác định khả năng tạo kháng sinh của các chủng phân lập:
Các phân lập sạch sau 1 tuần nuôi cấy trong ống thạch nghiêng được cấy lên bề mặt thạch đĩa Gauze I. Sau đó 5 đên 7 ngày nuôi cấy được thử hoạt tính kháng sinh bằng phương pháp khối thạch dựa trên nguyên tắc chất kháng sinh có trong khối thạch được khuếch tán vào môi trường đã cấy vi sinh vật chỉ thị tạo vòng vô khuẩn có đường kính tỷ lệ thuận với logarit nồng độ. Khả năng sinh tổng hợp kháng sinh của các phân lập được đánh giá bằng đường kính vòng ức chế.
- Chuẩn bị nhũ dịch vi sinh vật chỉ ...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement