Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By 30_03
#946342

Download miễn phí Đề án Giải pháp nâng cao hiệu quả công cụ điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam





MỤC LỤC

Lời nói đầu 2

Phần I: Chính sách tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ 4

1. Chính sách tiền tệ 4

2. Các mục tiêu của chính sách tiền tệ 4

3. Công cụ của chính sách tiền tệ 6

3.1. Chiết khấu và tái chiết khấu 7

3.2. Dự trữ bắt buộc 9

3.3. Nghiệp vụ thị trường mở 11

3.4. Hạn mức tín dụng 13

3.5. Khung lãi suất tiền gửi và cho vay. 15

Phần II: Thực trạng của việc sử dụng các công cụ tài chính tiền tệ ở Việt Nam trong những năm qua. 17

1. Chính sách tiền tệ với công cuộc cải cách và phát triển kinh tế ở Việt Nam 17

2. Thực trạng của việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam 18

2.1.Dự trữ bắt buộc 18

2.2. Lãi xuất tái chiết khấu 20

2.3. Nghiệp vụ thị trường mở 21

2.4. Hạn mức tín dụng 23

2.5. Lãi xuất tín dụng 23

2.6. Tỷ giá . 24

Phần III: Giải pháp nâng cao hiệu quả công cụ điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam 26

1. Thiết kế công cụ 26

2. Các giải pháp khác 28

Kết luận 29

Tài liệu tham khảo 30

 

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


t chiếu khấu tăng làm cho NHTG không thể vay như NHTƯ nhiều và dễ dàng như trước. NHTG phải hạn chế bớt những cơ hội cho vay để bảo đảm dự trữ. Như vậy, tác động trước hết làm tăng dự trữ của các NHTG, giảm cho vay, hậu quả là tổng cầu và sản lượng giảm theo. Tác động tiếp theo làm cho NHTG có ý thức rằng trong trường hợp khẩn cần vay nóng của NHTƯ thì NHTG phải trả lãi suất cao. Buộc NHTG phải từ từ nâng lãi suất lên theo để tránh thiệt hại khi phải vay của NHTƯ. Lãi suất tiếp tục thắt chặt cung ứng tiền và tác động đến nền kinh tế.
Chính sách chiết khấu, tái chiết khấu còn là công cụ định hướng tín dụng.
Nếu NHTƯ muốn kích thích xuất khẩu, sẽ cho tái chiết khấu trước hết các thương phiếu xuất khẩu hay nâng cao hạn mức tái chiếu khấu đối với những phiếu đó.
Trong nhiều trường hợp, NHTƯ có thể đặt ra những điều kiện thuận lợi hay chặt chẽ cho từng loại tín dụng của NHTG để được chiết khấu hay tái chiết khấu ở NHTƯ như: chiết khấu để giúp NHTG điều chỉnh dự trữ bắt buộc, thực hiện tín dụng từng mùa, thanh khoản...
Như vậy ta có thể rút ra ưu khuyết điểm của biện pháp chiết khấu tái chiết khấu như sau:
Ưu điểm:
Do việc vay mượn thực hiện trên nền các giấy tờ có giá nên thời hạn vay
mượn tương đối rõ ràng, việc hoàn trả tương đối chắc chắn.
Thông qua biện pháp chiết khấu và tái chiết khấu cụ thể là thông qua lãi suất chiết khấu, NHTƯ có thể thực hiện tốt hơn vai trò người cho vay cuối cùng.
Hạn chế:
NHTƯ có thể thay đổi lãi suất chiết khấu nhưng không thể bắt các NHTM phải đi vay tức là NHTM có quyền tự do vay hay không. Do vậy NHTƯ khó có thể kiểm soát được việc cung ứng tiền một cách có hiệu quả. Hơn nữa lại rất khó trong việc đảo ngược những thay đổi trong chính sách chiết khấu.
NHTG về sau này, một là không muốn đến vay ở NHTƯ vì những điều kiện và thủ tục của nó. Hai là họ có thể cảm giác không cần thiết phải đi vay NHTƯ.
Khi NHTƯ ấn định một lãi suất đặc biệt nào đó tạo ra sự biến động khoảng cách giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất thị trường. Dẫn tới thay đổi ngoài dự kiến khối lượng tiền vay, khó kiểm soát cung tiền tệ.
Đối với nhiều nước đặc biệt là các nước đang phát triển hay phát triển. Nền kinh tế của các nước này trở thành nền kinh tế mở. Do vậy nguồn vốn có thể tự do di chuyển. Khi NHTƯ tăng lãi suất chiết khấu thì luồng tư bản sẽ chảy vào trong nước. MD ngoại tệ tăng MD nội tệ giảm => i tăng mà M = Const.
3.2- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là tiền gửi của ngân hàng thương mại ở các NHTƯ, mức tiền gửi do luật pháp quy định bằng một tỷ lệ nhất định so với các khoản nợ của ngân hàng (tiền gửi của khách hàng).
Trong thực tế ta thấy tỷ lệ dự trữ bắt buộc ít nhất ở mức 10% và nhiều nhất ở mức 35% trên toàn bộ tiền gửi ở tổ chức tín dụng. Trong trường hợp cần thiết NHTƯ có thể quyết định tăng tỷ lệ dự trữ trên mức 35% và NHTƯ trả lãi cho mức tăng đó.
Phần sự trữ của NHTM được gửi vào tài khoản chuyên dùng ở NHTƯ và để tại quỹ của mình. Với mục đích góp phần đảm bảo khả năng thanh toán của NHTM và dùng làm phương tiện kiểm soát tín dụng của ngân hàng này.
NHTƯ sử dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc qua đó tác động tới số nhân tiền
C/D + 1
Ta có MM =
C/D + ER/D + rr
Khi NHTƯ tăng RR thì MM giảm -> MS giảm -> i tăng -> I giảm -> GDP giảm -> AD giảm -> P giảm qua cách điều tiết như trên ta thấy NHTƯ sử dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ mà cung ứng tiền là mục tiêu.
Mặt khác, NHTƯ có thể không sử dụng cách điều tiết trực tiếp bằng việc đặt ra tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà có thể tác động tới tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng cách cung ứng tiền. NHTƯ bán chứng khoán (giảm MS). NHTƯ làm giảm RR trong hệ thống NHTG, do vậy làm tăng lãi suất, hạn chế cho vay, tiêu dùng, đầu tư khi NHTƯ mua chứng khoán (tăng MS), làm tăng RR của hệ thống NHTG. Do đó khuyếch trương khả năng cho vay, tiêu dùng và đầu tư của hệ thống NHTG và làm giảm lãi suất. Trong trường hợp này, cung ứng tiền là công cụ mà dự trữ là mục tiêu.
Ưu điểm:
Có thể thấy, dự trữ bắt buộc là công cụ tiềm năng của chính sách tiền tệ, nó có thể tác động đến tất cả các ngân hàng và tác động mạnh tới cung tiền.
Khi sử dụng tỷ lệ dự trũ bắt buộc thì nguồn vốn tư bản nước ngoài không thể theo con đường gián tiếp mà phải đầu tư trực tiếp có lợi cho nền kinh tế.
Tạo điều kiện cho sự kiểm soát tín dụng của NHTƯ đối với NHTM đồng thời tránh sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng.
Hạn chế:
Sẽ rất vất vả để thực hiện những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi RR bởi vì phải tốn kém rất nhiều để quản lý những thay đỏi trong RR. Thực tế cho thấy đây là một công cụ quá mạnh, chỉ còn tăng một lượng nhỏ RR sẽ làm cho
1
D = x R giảm xuống một lượng rất lớn gây ra những cú sốc.
rr
Mặt khác, RR có thể gây rắc rối với vấn đề thanh khoản của NHTM. Đối với những NHTM có ER ở mức thấp. làm cho hệ số sử dụng vốn của các NHTM quá thấp ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chính sách lãi suất của các NHTM này. Gây ra sự bất lợi cho kinh doanh và huy động vốn của các NHTM làm đình đốn tín dụng.
Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc đặt ra ở một mức quá cao nào đó làm tê liệt khả năng tạo tiền của các NHTM (các NHTM mất khả năng tạo tiền).
Như vậy, NHTƯ không thể điều tiết lượng tiền như ý muốn
3.3. Nghiệp vụ thị trường mở:
Trước kia, các nghiêp vụ chiết khấu và tái chiết khấu của NHTƯ chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Nhưng về sau do hạn chế của nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu đòi hỏi NHTƯ phải
có những công cụ mới phù hợp hơn.
Khi nghiệp vụ thị trường mở lần đầu tiên được FED sử dụng sau thời kỳ suy thoái 1920 - 1921 đã có tác dụng lớn. Với thị trường mở, NHTG có thể tìm cho mình nguồn tài trợ cần thiết, với những thủ tục nhanh gọn. Cho nên hoạt động thị trường mở ngày càng quan trọng hơn, làm giảm bớt hoạt động tái chiết khấu. Qua thị trường này, NHTƯ có thể tác động đến việc tăng giảm khối lượng tiền tệ một cách trực tiếp đối với NHTM.
Như vậy, có thể nói nghiệp vụ thị trường mở là việc NHTƯ mua bán giấy tờ có giá với mục đích tác động tới thị trường tiền tệ, điều hoà cung và cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các NHTM tại NHTƯ, từ đó tác động đến khả năng cung cấp tín dụng của các ngân hàng này.
Trên thị trường mở, NHTƯ chủ yếu mua và bán trái phiếu của Chính phủ. Khi NHTƯ bán trái phiếu để thu tiền về. Lượng trái phiếu tuôn ra thị trường đột ngột trở nên rất lớn. Trái phiếu dư thừa làm cho giá cả của trái phiếu tăng thì NHTM phải tăng lãi suất ngân hàng nên để tránh tình trạng nhân dân và các nhà đầu tư rút tiền ra khỏi ngân hàng đem đầu tư vào trái phiếu. Lãi suất tăng làm cho cung tiền giảm, làm giảm tỷ giá và giá cả hàng hoá. Mặt khác, lãi suất ngân hàng tăng làm cho khả năng cho vay của NHTM bị thu hẹp; nhất là khi tiền mua trái ...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement