Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By memory_forever
#938147

Download miễn phí Tiểu luận Công cụ kinh tế quản lý chất thải rẵn





Đặt cọc hoàn trả là người tiêu dùng phải trả một khoản tiền cho chủ cửa hàng khi mua sản phẩm mà sau đó có thể tái chế, tái sử dụng (như bia, nước ngọt đựng trong trai thuỷ tinh, ắc quy ô tô ) khoản tiền này sẽ được hoàn lại nếu sau đó, người tiêu dùng đem trả lại đồ thuỷ tinh, ác quy ôtô cho cửa hàng hay một điểm thu gom nào đó để tái chế, tái sử dụng.

Việc phải đặt cọc và có thể nhận lại tiền đã tạo ra chi phí cá nhân bổ sung của việc vứt rác, đó là chi phí cơ hội của việc không lấy lại được tiền. Mức tiền có thể được hoàn lại cho mỗi đơn vị thải là dành đã làm cho chi phí vứt rác tăng lên một khoản là d. Và như vậy, với chi phí thải rác cao hơn, các cá nhân sẽ giảm mức thải và tăng mức tái sử dụng đến mức tối ưu xã hội.

Hệ thống đặt cọc hoàn trả còn tạo ra một thị trường tái sử dụng. Ở nhiều nơi, Nhà nước và tư nhân cũng như rất nhiều lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức chuyên môn hoá vào hoạt động thu gom, mua bán và vận chuyển vật liệu có thể tái sử dụng. khi thị trường này lớn hơn và hiệu quả hơn thì cầu về vầt liệu tái sử dụng sẽ tăng lên so với cầu về vật liệu nguyên chất, vì thế sẽ làm tăng tác động tích cực đối với môi trường.

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


Công cụ kinh tế quản lý chất thải rẵn
Chất thải rắn đô thị (MSW- Municipal Solid Waste) là một loại chất thải rắn tổng hợp ở khu vực đô thị, bao gồm có chất thải sinh hoạt của các hộ gia đình thải ra, chất thải rắn của các hoạt động thương mại và dịch vụ, chất thải của các hoạt động công nghiệp, chất thải rắn từ hoạt động xây dựng, chất thải rắn bệnh viện vv… chúng có một đặc thù riêng và đang trở thành vấn đề quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia trên thế giới trong việc thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng và chôn lấp. Và vấn đề ô nhiễm do chất thải rắn gây ra cần có những công cụ kinh tế hiệu quả giải quyết.
Phương pháp kinh tế áp dụng cho các chính sách về môi trường ngày nay đang được áp dụng rộng rãi trong hầu hết các quốc gia công nghiệp hoá. Phương pháp này nhấn mạnh sự ích lợi của các công cụ kinh tế (EI) được dùng để thay đổi thái độ của con người thông qua cơ chế về giá cả. Các công cụ kinh tế được đưa vào nền kinh tế để sữa chữa các sai lầm của thị trường và nó thích ứng tốt với phương pháp chi phí và lợi ích về nguyên lý quản lý. Tuy nhiên các EI không thể làm giảm nhẹ khó khăn về mặt sai lạc thông tin và đòi hỏi sự triển khai cẩn thận, chú ý đến hiệu quả của hệ thống và nhu cầu quản lý tổng hợp. Một loạt các công cụ kinh tế khác nhau để quản lý chất thải rắn được áp dụng trên thế giới là: thuế và phí môi trường; giấy phép chất thải có thể mua bán hay “cota ô nhiễm” ; ký quỹ môi trường; trợ cấp môi trường; nhãn sinh thái.
Thuế và phí môi trường
Thuế ô nhiễm môi trường:
Về mặt lý thuyết, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà Nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Thuế ô nhiễm môi trường là loại thuế thu được từ các hoạt động sản xất kinh doanh gây ra ô nhiễm môi trường. Loại công cụ này được sử dụng nhằm: một mặt tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, mặt khác hạn chế hay ngăn chặn tác nhân gây ô nhiễm môi trường tại các đô thị và khu công nghiệp và đảm bảo công bằng xã hội. Đây là công cụ hữu hiệu có tác dụng điều hoà trực tiếp các quan hệ lợi ích giữa xã hội và doanh nghiệp. Từ đó làm lành mạnh các quan hệ xã hội, đồng thời khuyến khích ý thức tiết kiệm, giảm bớt sự lãng phí trong quá trình khai thác sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và tăng cường biện pháp bảo vệ môi trường. Để phát huy tối đa công cụ tính thuế chúng ta cần coi trọng hai hình thức thu gián tiếp và thu trực tiếp. Việc tính thuế phải dựa trên cơ sở xác định các yếu tố đầu vào hay dựa trên các yếu tố đầu ra. Xác định các yếu tố đầu vào của sản xuất hay dịch vụ, nguyên nhân có thể gây ô nhiễm môi trường để tính thuế có tác dụng điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh theo hướng tích cực, tạo ra sự hài hoà giữa lợi ích của xã hội và các doanh nghiệp.
Cho tới nay trên thế giới đã xuất hiện một số loại thuế ô nhiễm môi trường hay các loại thuế liên quan đến bảo vệ môi trường. Loại thuế đầu tiên là thuế Pigou đưa ra năm 1920. Với mục đích của việc thu thuế là nhằm thu hẹp khoảng cách giữa chi phí cá nhân (MC) biên và chi phí xã hội (MSC) biên. Phương pháp chủ yếu là đánh thuế vào từng đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm môi trường.
Gọi T là mức thuế đánh vào 1 đơn vị chất thải rắn
T=MSC-MC
Theo Pigou, mức thuế ô nhiễm môi trường phải được xác định theo sản lượng hàng hoá, nó có liên quan đến quy mô sản xuất và lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp. Do vậy, để đảm bảo tối đa hoá lợi ích xã hội, doanh nghiệp phải điều chỉnh quy mô sản xuất ở mức tối đạt sản lượng tối ưu (doanh nghiệp phải tính tới chi phí môi trường). Nếu một doanh nghiệp nào đó sản xuất ra một sản lượng sản phẩm hảng hoá nhỏ hơn mức sản lượng tối ưu, thì doanh nghiệp không thu được lợi nhuận tối đa. Ngược lại nếu mức sản lượng của doanh nghiệp lớn hơn mức tối ưu, khi đó lợi nhuận của cận biên mà hãng thu được do việc sản xuất thêm đó sẽ nhỏ hơn mức thuế t* mà doanh nghiệp phải trả cho đơn vị sản phẩm thêm đó và việc này làm cho lợi nhuận doanh nghiệp giảm xuống. Do đó để tối đa hoá lợi ích, doanh nghiệp phải tự điều chỉnh tới quy mô sản lượng ở mức sản xuất tối ưu.
Thu phí là việc thu lại khoản chi phí mà xã hội phải bỏ ra để khắc phục các hậu quả về môi trường do chi phí ngoại ứng biên gây ra sẽ có tác dụng không chỉ tăng thu cho ngân sách mà còn kích thích các doanh nghiệp tìm kiếm các giải pháp hạn chế tối đa các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.
Vấn đề đặt ra đối với việc xác định mức thuế ô nhiễm là: một mặt cần khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, không ngừng tăng lợi nhuận; mặt khác phải thực hiện các giải pháp về bảo vệ mội trường. Trong thực tế, việc thực hiện thu thuế gặp rất nhiều khó khăn do việc lựa chọn các chỉ tiêu thích ứng với từng loại sản phẩm của từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Tính thuế gây ô nhiễm dựa trên các nguyên tắc sau:
Tính thuế theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả
Tính thuế dựa vào khối lượng tiêu thụ các nguyên, nhiên vật liệu đầu vào
Tính thuế dựa vào lợi nhuận của doanh nghiệp
Tính dựa vào khối lượng sản phẩm được sản xuất ra
Tính thuế theo mức độ gây ô nhiễm môi trường
Tính thuế theo công thức tổng quát
Vấn đề đặt ra là nhà nước phải chọn được phương pháp tính sao cho hợp lý đem lại lợi ích tối đa cho xã hội.
Phí ô nhiễm môi trường:
Phí là khoản thu của nhà nước, để bù đắp một phần các chi phí cho công tác bảo vệ và quản lý môi trường, đảm bao cho cung cấp dịch vụ trực tiếp cho người nộp phí. Như vậy, khác với thuế ô nhiễm môi trường, phần lớn nguồn thu từ phí sẽ được sử dụng cho công tác bảo vệ môi trường và quản lý môi trường, giải quyết một phần các vấn đề môi trường do những người đóng phí gây ra.
Phí xả thải là loại phí đánh vào lượng chất thải thực tế của người sản xuất. Đây là một dạng thuế pigou. Để xác định mức phí tính trên mỗi đơn vị chất thải rắn, người ta phải căn cư vào chi phí cần thiết để làm giảm đơn vị ô nhiễm đó. Khi áp dụng phí xả thải, người gây ô nhiễm sẽ có phản ứng phù hợp để nhằm tối thiểu hoá chi phí của mình. Để đạt một mức thải xác định nào đó, thì Nhà nước cần quy định mức phí thải đúng bằng với chi phí giảm thải cận biên và bằng với chi phí thiệt hại cận biên theo công thức sau:
F=MAC=MDC
Tuy nhiên trên thực tế áp dụng công thức này, cũng giống như chuẩn mức thải hay công cụ thuế, do không có đủ thông tin vể MAC và MDC nên mức phí quy định có thể cao hơn hay thấp hơn phí F và vì thế mà mức thải cuối cùng không chùng với mức tối ưu.
Trợ cấp môi trường
Trợ cấp thường đựơc sử dụng trong những trường hợp ở những khu vực mà ở đó khó khăn đáng kể về kinh tế. Trợ cấp của nhà nước để xử lý ô nhiễm môi trường do chất thải rắn. Nguyên nhân là trong các hoạt động này lợi ích cá nhân thường thấp hơn lợi ích xã hội, do đ...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement