Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By domdomdidem_lilywillow
#934760

Download miễn phí Báo cáo thực tập tổng hợp tại Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang





MỤC LỤC

Trang

PHẦN I: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BẮC GIANG 1

1 - Điều kiện tự nhiên 1

1.1 - Vị trí địa lý kinh tế 1

1.2 - Đặc điểm địa hình 3

1.3 - Khí hậu 4

2 - Tiềm năng và nguồn lực 5

2.1- Nguồn nhân lực 5

2.2 - Tiềm năng về đất 7

2.3 – Tài nguyên nước 9

2.4 - Tài nguyên rừng. 10

2.5 - Tài nguyên khoáng sản 11

3. Tình hình kinh tế - xã hội 13

PHẦN II: SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH BẮC GIANG 18

1 – QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH BẮC GIANG 18

2 – HỆ THỐNG TỔ CHỨC , CHỨC NĂNG , NHIỆM VỤ VÀ PHÂN CÔNG CÁN BỘ CỦA SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH BẮC GIANG 19

2.1. Chức năng: 19

2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn: 19

2.3. Bộ máy tổ chức và phân công cán bộ của sở nông nghiệp tỉnh Bắc Giang 22

PHẦN III: ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP 36

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUẢN LÝ CHẶT CHẼ VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC GIANG 36

 

 





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


, cống và hệ thống kênh mương được tu bổ, kiên cố hoá đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Bộ mặt đô thị và nông thôn ngày một đổi thay; hạ tầng đô thị và một số khu dân cư mới được hoàn thành; thị xã Bắc Giang đã trở thành thành phố thuộc tỉnh; nhiều thị trấn, thị tứ của các huyện được quan tâm đầu tư, nâng cấp trở nên khang trang, sáng, xanh, sạch, đẹp hơn.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 20%, năm 2006 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.723 tỷ đồng, tăng gấp 3,2 lần so với năm 1997. Đáng chú ý, tỉnh đã triển khai xây dựng 3 khu công nghiệp là: Đình Trám với quy mô 100 ha đã cho thuê hết đất; Song Khê – Nội Hoàng quy mô 150 ha; Quang Châu quy mô 426 ha đang tích cực triển khai, cùng 25 cụm công nghiệp, làng nghề, thu hút trên 4,5 ngàn lao động.
Các thành phần kinh tế được quan tâm khuyến khích phát triển. Kinh tế tập thể có bước củng cố, mở rộng; đến năm 2006, toàn tỉnh đã có 670 hợp tác xã, thu hút gần 150 ngàn xã viên tham gia. Kinh tế tư nhân phát triển nhanh; đến nay, có 1.280 doanh nghiệp dân doanh, chi nhánh, văn phòng đại diện, với tổng số vốn đăng ký trên 2 ngàn tỷ đồng, tăng hơn 20 lần so với năm 1997, bình quân 1.200 người dân có 1 doanh nghiệp; năm 2006, khối doanh nghiệp tư nhân đã tạo việc làm cho gần 6 nghìn lao động, nộp thuế cho nhà nước đạt trên 60 tỷ đồng. Kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển đa dạng, mô hình kinh tế trang trại phát triển nhanh, bình quân mỗi năm tăng thêm trên 200 trang trại, đưa số trang trại toàn tỉnh đến nay là 2.562 trang trại. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển khá, đã có 40 dự án được cấp giấy phép đầu tư, với tổng mức vốn đăng ký gần 70 triệu USD.
Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được mùa và từng bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi. Năng suất lúa tăng từ 32,2 tạ/ha năm 1997 lên 47,8 tạ/ha năm 2006; diện tích, năng suất, sản lượng rau mầu, thực phẩm và các cây công nghiệp ngắn ngày đều tăng; giá trị thu nhập trên một ha đất canh tác đạt 28 triệu đồng, tăng gần 2 lần so với năm 1997. Bước đầu đã hình thành một số vùng nông sản hàng hoá tập trung như: vùng cây ăn quả, với diện tích trên 50 ngàn ha, vùng lúa 105 nghìn ha, vùng lạc trên 7 nghìn ha và vùng rau, màu thực phẩm trên 21 nghìn ha.... Chăn nuôi phát triển mạnh, với đàn lợn trên 1 triệu con, đàn bò trên 140 nghìn con, đàn gia cầm trên 10 triệu con... Đáng chú ý, đã có nhiều mô hình chăn nuôi, trang trại gia súc, gia cầm theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp. Nhiều nông dân trong tỉnh quan tâm bàn chuyện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, chuyện Việt Nam gia nhập WTO.
Các hoạt động thương mại, dịch vụ có những tiến bộ đáng kể, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đáp ứng tốt hơn nhu cầu đời sống và sản xuất của nhân dân. Thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ phong phú, đa dạng và ngày càng phát triển; đã mở nhiều tuyến xe buýt Bắc Giang- Bắc Ninh- Hà Nội và tới trung tâm các huyện trong tỉnh đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Một số chợ huyện, trung tâm thương mại và hệ thống chợ ở nông thôn được đầu tư, nâng cấp. 100% các xã, phường, thị trấn đã có máy điện thoại, có bưu cục hay điểm bưu điện văn hoá và có báo đọc trong ngày; tỷ lệ điện thoại cố định tăng 5,6 máy so với năm 1997.
Các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, khoa học- công nghệ, văn hoá- xã hội, y tế có chuyển biến tích cực cả về quy mô và chất lượng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, với 796 trường từ mẫu giáo đến cao đẳng. Tỉnh nhà đã hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở vào năm 2003 và đang tiến hành phổ cập bậc trung học, đến nay có trên 30% số trường đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ phòng học kiên cố ở ngành học phổ thông đạt 64,5%; chất lượng giáo dục toàn diện có chuyển biến... và được Bộ Giáo dục & Đào tạo xếp trong tốp 10 tỉnh dẫn đầu toàn quốc. Thiết chế văn hoá cơ sở được tăng cường, toàn tỉnh có trên 46% số thôn, bản, tổ dân phố được công nhận đạt danh hiệu văn hoá. Tất cả các xã, phường, thị trấn có trạm y tế, trong đó 116/229 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, đạt 50,5%; 100% xã, phường, thị trấn có bác sỹ; các thôn, bản đều có nhân viên y tế hoạt động; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,6% năm 1997 xuống còn 1,18% năm 2006.
Đào tạo nghề có bước phát triển, đến nay có 4 trường trung học nghề, số cơ sở đào tạo nghề tăng gấp 4 lần so với năm 1997, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 25%. Bình quân hàng năm đã tập trung giải quyết việc làm cho 1,5 vạn lao động. Đáng chú ý công tác đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài được quan tâm; đến nay, toàn tỉnh đã có trên 1,5 vạn lao động đang làm việc tại nước ngoài, hàng năm đem về cho gia đình 600- 700 tỷ đồng, bằng tổng thu ngân sách của tỉnh. Số hộ cùng kiệt giảm mạnh, năm 2006 tỷ lệ hộ cùng kiệt còn 25,04%, giảm 5,6% so với năm 2005; đã thực hiện chế độ bảo hiểm y tế và khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn tỉnh và nhân dân ở 44 xã đặc biệt khó khăn... Công tác quân sự địa phương, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Tuy nhiên, hiện tại chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: Quy mô nền kinh tế nhỏ bé, GDP bình quân/người mới bằng một nửa mức trung bình của cả nước, cơ cấu kinh tế còn lạc hậu, tỷ trọng ngành nông nghiệp còn cao, nguồn thu ngân sách trên địa bàn còn hạn hẹp và chưa bền vững, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn lớn, tỷ lệ hộ cùng kiệt còn cao, thu nhập của đại bộ phận nông dân còn thấp.
Trong giai đoạn đến năm 2020, thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội, Bắc Giang sẽ tập trung phát triển mạnh công nghiệp- dịch vụ, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt từ 11- 12%, GDP bình quân đầu người xấp xỉ bằng mức bình quân của cả nước, tỷ trọng ngành công nghiệp- xây dựng 50%, ngành dịch vụ lên 37% và tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản còn 13%, tham gia câu lạc bộ thu ngân sách ngàn tỷ đồng. Phấn đấu trên mức bình quân cả nước một số lĩnh vực như: giáo dục- đào tạo, văn hoá, xoá đói giảm nghèo...
Trước mắt, giai đoạn từ nay đến năm 2010 có ý nghĩa quyết định cho giai đoạn sau. Để đạt được các mục tiêu đề ra, tỉnh Bắc Giang sẽ tập trung chỉ đạo có hiệu quả 5 Chương trình phát triển kinh tế- xã hội trọng tâm là: Chương trình phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn; Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá; Chương trình xây dựng và phát triển văn hoá- thông tin; Chương trình phát triển giáo dục- đào tạo và dạy nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Chương trình giảm nghèo.
Tập trung cao cho nhiệm vụ thu hút đầu tư, nhất là chủ động đón nhận “Làn s...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement