Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By Jar
#924923

Download miễn phí Khóa luận Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU đề ra triển vọng và những giải pháp





Mục lục

 Lời mở đầu

Chương I: KHái quát chung về quan hệ Việt Nam – EU

1. Khái quát về Liên minh Châu Âu (EU)

2. Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam – EU

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế Việt Nam

2.2. Quan hệ Việt Nam – EU

2.2.1. Về chính trị

2.2.2. Về viện trợ

2.2.3. Về thương mại

2.2.4. Về đầu tư

Chương II : Quan hệ thương mại Việt Nam – Liên minh Châu Âu

2.1. Chính sách thương mại của EU với các nước

2.1.1. Chính sách thương mại nội khối của EU

2.1.2. Chính sách thương mại của EU với các nước trên thế giới

2.1.3. Chính sách thương mại của EU đối với Việt Nam

2.2. Quan hệ thương mại Việt Nam – EU

2.2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – EU

2.2.2. Cơ cấu mặt hàng

2.2.3. Mặt hàng xuất khẩu của EU vào thị trường Việt Nam

2.3. Quan hệ Việt Nam với một số nước thành viên

2.3.1. Quan hệ thương mại Việt Nam với Đức

2.3.2. Quan hệ thương mại Việt Nam – Anh

2.3.3. Quan hệ thương mại Việt Nam – Pháp

2.3.4. Quan hệ thương mại Việt Nam – Hà Lan

2.3.5. Quan hệ thương mại Việt Nam – Thụy Điển

Chương III : Triển vọng và những giải pháp thúc đẩy thương mại Việt Nam – EU

3.1. Triển vọng

3.1.1. Lợi thế trong triển vọng hợp tác thương mại giữa Việt Nam – EU

3.1.2. Những thách thức trong hợp tác thương mại giữa Việt Nam – EU

3.2. Những giải pháp

3.2.1. Về phía EU

3.2.2. Về phía Việt Nam

Kết luận

Tài liệu tham khảo





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


5,0
11495
1995.7
17,36
10,42
Nguồn: Niên giám thống kê và Bộ thương mại.
Quan hệ thương mại Việt Nam - EU ngày càng phát triển mạnh về cả về lượng và về chất. Năm 1997, kim ngạch buôn bán hai chiều là 3,3 tỷ USD. Đây cũng là năm đầu tiên thặng dư mậu dịch của Việt Nam với EU khoảng 1,1 tỷ USD. Năm 1998, tổng kim ngạch buôn bán hai chiều đạt 4,09 tỷ USD tăng 7,2% so với năm 1997. Năm 1999, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu ước đạt 3,1 tỷ USD. Việt Nam xuất 2,182 tỷ USD và nhập 0,919 tỷ USD. Trong quý I năm 2001, tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu là 1,07 tỷ USD. Điều đó chứng tỏ EU là đối tác hỗ trợ rất lớn cho những nỗ lực của Việt Nam trong việc cải thiện cán cân thương mại (tình trạng nhập siêu đã giảm mạnh cả về giá trị tuyệt đối lẫn tương đối. Sau khi tăng mạnh vào năm 1996 đạt gần 4 tỷ USD; năm 1999 chỉ còn 0,2 tỷ USD chiếm 0,7 % kim ngạch xuất - nhập khẩu).
Bên cạnh đó, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài có vai trò rất lớn cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Dòng vốn FDI và ODA từ EU đổ vào Việt Nam ngày càng lớn. Các nhà đầu tư EU tạo nên một nguồn tài chính nước ngoài lớn và quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng sản lượng công nghiệp của các ngành công nghiệp và tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đến năm 1996 đầu tư cả EU vào Việt Nam vào khoảng 12% tổng số
vốn đầu tư của EU ở khu vực Châu á, nhiều hơn đầu tư của EU vào các nước khác trong khu vực.
Với nguồn vốn đầu tư của mình các nhà đầu tư EU đã phần nào thúc đẩy quá trình mở rộng thị trường cả trong và ngoài Việt Nam, khai thông một số thị trường mà Việt Nam còn bỏ trống, tạo lợi thế cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập ổn định vào thị trường này, nâng cao năng lực hơn trong việc đẩy mạnh xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam.
Sự tăng cường các hoạt động trao đổi thương mại giữa Việt Nam và EU, cho phép các yếu tố đang được sử dụng ở trong nước được phân bổ một cách hiệu quả hơn đồng thời sử dụng tối đa các yếu tố sản xuất chưa sử dụng hết. Bên cạnh đó cũng đem lại lợi ích nhờ mở rộng qui mô chuyên môn hoá sản xuất, tận dụng được qui luật hiệu quả tăng dần theo qui mô sản xuất.
Thông qua các hoạt động thương mại với EU, Việt Nam có cơ hội thuận lợi để tham khảo, học hỏi kinh nghiệm, giải quyết được những khó khăn về vốn, công nghệ và kỹ thuật sản xuất; phát huy những tiềm năng trong nước nhằm phát triển kinh tế, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng.
Một mối quan hệ qua lại là thông qua nhập khẩu để có trang thiết bị hiện đại và công nghệ cao từ Châu Âu phục vụ cho sản xuất trong nước từ đó phục vụ cho xuất khẩu.
2.2.2. Cơ cấu mặt hàng.
EU là một thị trường tiêu thụ một khối lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam, song đây là thị trường bao gồm nhiều mặt hàng của các nước đang phát triển cạnh tranh với nhau gay gắt, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu á. Tuy vậy, thời gian qua đã tăng xuất khẩu được một số sản phẩm của mình, trong đó nổi lên mặt hàng thủy sản đang ngày càng có lợi thế hơn trước các đối thủ cạnh tranh do EU có cơ chế loại trừ dần diện mặt hàng được hưởng GSP. EU đã áp dụng cơ chế này đối với một số nước như Thái
Lan, Malaixia, Braxin, Trung Quốc, ấn Độ đối với một số mặt hàng như: hải sản, ngũ cốc, dệt may, đồ da, cà phê, đồ uống..
Hàng hoá của Việt Nam xuất sang EU chủ yếu là giày dép, dệt may, cà phê, hải sản, gạo (chủ yếu tái xuất đi nước thứ ba), cao su, than đá, điều nhân và rau quả. chín mặt hàng này thường xuyên chiếm tới 75% kim ngạch xuất khẩu của ta và EU, trong đó riêng giày dép là 30%; dệt may là 25% cà phê và hải sản trên dưới 14% 1 Nguồn: Những vấn đề kinh tế thế giới số 2/2001. tr 74
.
Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong năm 2000 sang EU cho thấy mặt hàng giày dép chiếm tỷ trọng cao nhất là 29,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của EU từ Việt Nam; hàng dệt may chiếm 24,5%; cà phê 9,6%; hạt điều 5,3%; thủy sản 4,43%; gạo 3,4%; cao su 0,96%; than đá 0,7%; rau quả 0,3%, hàng hoá khác là 21,1%. Sang năm 2002, mặt hàng giày dép vẫn giữ tỷ trọng đứng đầu là 30%.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đang có những thay đổi. Năm 1999 ngoài những mặt hàng truyền thống trên, mặt hàng linh kiện máy tính và hàng điện tử đã bước đầu thâm nhập vào thị trường EU, kim ngạch năm 1999 khoảng 23 triệu USD.
Thực tế trong những năm qua trong số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU đã nổi lên một số sản phẩm mũi nhọn như: hàng dệt may, hàng giày dép, thủy sản của Việt Nam hiện đang có lợi thế đối với thị trường EU cũng là những mặt hàng có bước tiến dài để đến nay có được vị thế trên thị trường đầy khó khăn này.
* Hàng dệt may.
Việt Nam đã ký kết với EU hiệp định thương mại hàng dệt may từ năm 1992 (cho 5 năm từ 1993 đến 1997) và 1997 (cho 3 năm từ 1998 đến năm
2000). Để đẩy nhanh tốc độ xuất khẩu trực tiếp với bạn hàng EU, Hiệp định bổ sung tháng 3 năm 2000 quy định hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt trong ba năm từ 2000 đến 2002 mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội thuận lợi 1 Báo công nghiệp và thương mại số 48/2001
.
Đã có trên 500 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU. Chín tháng đầu năm 2000, tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng dệt may sang EU đã đạt 475 triệu USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 1999.
Tuy nhiên mức tăng này chậm và nếu không tăng hơn là do không sử dụng hết hạn ngạch. Có khả năng do không sử dụng hết hạn ngạch năm 2000 là: Thứ nhất, vì đồng EU mất giá so với đồng USD, lợi nhuận của nhà nhập khẩu giảm đã dẫn đến giảm đơn đặt hàng cho các doang nghiệp Việt Nam. Thứ hai, do tỷ lệ xuất khẩu qua trung gian nước thứ ba còn quá lớn, trong khi đó nhà nhập khẩu trung gian không có nhiều đơn đặt hàng như dự tính...
Bảng 3: Đơn vị tính triệu USD.
Năm
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
Giá trị xuất khẩu
250
285
350
420
450
620
700
(Nguồn: Tổng công ty Vinatex)
Năm 2000 là năm đầu tiên thực hiện theo hiệp định mới của nhiều mặt hàng tăng gần gấp đôi so với mức hạn ngạch năm 1999 nhưng theo thông lệ 5%/năm là mức gia tăng hạn ngạch tối đa mà EU dành cho hàng dệt may Việt Nam. Theo hiệp định mới này, phía EU mở rộng cánh cửa cho hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường này. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong năm 2002 đạt hơn 2,7 tỷ USD được coi là năm có mức tăng trưởng lớn nhất trong 5 năm trở lại đây, trong đó xuất sang EU lượng hàng trị giá 600 USD. Các chuyên gia Bộ thương mại dự đoán, với Hiệp định vừa được ký kết
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU trong năm 2003 có thể đạt tới 900 triệu USD, đưa kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai bên vượt con số 6 tỷ USD.
Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần chú trọng vào một số điểm để được hưởng lợi ích từ mức tăng hạn ngạch như các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động đến các nước nhập khẩu tìm kiếm đối tác, tham gia triển lãm hội chợ, đặc biệt là hội chợ chuyên ngành dệt may từ những nước đó. Đồng thời tăng cường đầu tư chiều sâu sản xuất các mặt hàng có chỉ giá gia tăng cao.
Với sự cố gắng của c...
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement