Chia sẻ luận văn, tiểu luận ngành kinh tế miễn phí
Nội quy chuyên mục: - Hiện nay có khá nhiều trang chia sẻ Tài liệu nhưng mất phí, đó là lý do ket-noi mở ra chuyên mục Tài liệu miễn phí.

- Ai có tài liệu gì hay, hãy đăng lên đây để chia sẻ với mọi người nhé! Bạn chia sẻ hôm nay, ngày mai mọi người sẽ chia sẻ với bạn!
Cách chia sẻ, Upload tài liệu trên ket-noi

- Những bạn nào tích cực chia sẻ tài liệu, sẽ được ưu tiên cung cấp tài liệu khi có yêu cầu.
Nhận download tài liệu miễn phí


Để Giúp ket-noi mở rộng kho tài liệu miễn phí, các bạn hảo tâm hãy Ủng hộ ket-noi
ket-noi sẽ dùng số tiền được ủng hộ để mua tài liệu chia sẻ với các bạn
By angeloflove3779
#924381

Download miễn phí Đề án Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh mặt hàng nông sản của Việt Nam trên thị trường





Để nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam, nhằm ổn định, nâng cao chất lượng, giá cả, khẳng định vị trí của cà phê Việt Nam. các doanh nghiệp, các ngành có liên quan cũng như nhà nước cần có những biện pháp thích hợp và triển khai một cách đồng bộ.

Trước hết, ngành cà phê cần chú ý thay đổi cơ cấu sản phẩm ngay từ khâu trồng trọt. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng và từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Cả nước hiện có khoảng 375 ngàn ha phân bố trên nhiều địa bàn từ Bắc chí Nam. Khu vực phía Bắc có diện tích nông sản không nhiều, năng suất không cao, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu không phù hợp với một số nông sản, nhưng cà phê lại phát triển tốt tại đây. Cần đưa giống nông sản năng suất cao và chống sâu bệnh vào khu vực trung du và miền núi phía Bắc, đáp ứng yêu cầu chất lượng của nông sản xuất khẩu.





Để DOWNLOAD tài liệu, xin trả lời bài viết này, mình sẽ upload tài liệu cho bạn ngay.

Ketnooi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ketnooi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


cấp và mới đang trong quá trình chuyển sang nền sản xuất hàng hóa, năng suất lao động thấp do đó kéo dài thời gian sản xuất sản phẩm nên không tạo được sức cạnh tranh trên thị trường.
2. Thực trạng công nghệ chế biến nông sản ở Việt Nam.
Hàng nông sản của Việt Nam ở vị trí khá cao so với các quốc gia khác, hàng nông sản của ta có mặt hầu hết trên tất cả các thị trường của thế giới nhưng lượng ngoại tệ thu về từ hàng nông sản vẫn còn rất khiêm tốn do giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, cao su, hạt điều...đều bán thấp hơn giá thế giới từ 20 - 40USD, thậm chí còn thấp hơn. Công nghệ và các cơ sở chế biến nông sản của Việt Nam trong thời gian dài ít được quan tâm đầy đủ, một phần do khó khăn về nguồn vốn đầu tư nên trình độ công nghệ thấp và chậm được đổi mới, tổn thất sau thu hoạch còn rất lớn. Cơ sở chế biến hàng nông sản xuất khẩu còn ít như ngành cà phê mới chỉ có khoảng 20 cơ sở hcế biến công nghiệp hoàn chỉnh, chủ yếu là sơ chế đảm bảo chiếm khoảng 30% sản lượng cà phê/năm. Mặt hàng hạt điều tuy đã phát triển nhanh và chuyển từ xuất khẩu điều thô sang xuất khẩu nhân hạt điều nhưng mức độ cơ giới hóa trong quy hoạch quy trình công nghệ chế biến điều còn thấp, các nhà máy mới chỉ thu đựoc sản phẩm chính để xuất khẩu là nhân điều, chưa áp dụng được quy trình "chế biến không phế liệu" để thu hoạch các sản phẩm chính và các sản phẩm phụ, nên đã đạt hiệu quả kinh tế thấp. Vì vậy các nhà máy chế biến chưa thể nâng cao được giá thu mua các mặt hàng nông sản thô từ nông dân, một yếu tố để kích thích nông dân tích cực gieo trồng hàng nông sản.
Đa số công nghệ của ta còn giản đơn, thô sơ, lạc hậu, mang nặng tính kinh nghiệm, thậm chí những điều kiện tối thiểu sân phơi, máy sấy, kho bảo quản cũng không đủ. Do đó vấn đề cần giải quyết là nhà nước cần có kế hoạch cân đối lại giữa công suất chế biến và nguồn nguyên liệu, mở rọng hoạt động điều phối giữa các xí nghiệp chế biến hàng nông sản thông qua Hội nông dân Việt Nam.
3. Tình hình tiêu thụ hàng nông sản trong thị trường nội địa.
Hàng nông sản là sản phẩm thiết yếu của mọi người dân như gạo, chè, cà phê... tuy vậy do mức sống của nhân dân ta còn thấp nên các sản phẩm nông sản được sản xuất ra chủ yếu là phục vụ cho xuất khẩu mà tiêu thụ cho thị trường trong nước chủ yếu là các sản phẩm thô, thứ cấp với giá rẻ hơn gấp nhiều lần như mặt hàng cà phê tiêu thụ trong nội địa chỉ đạt khoảng 6000 tấn/năm chiếm 1,5 - 2% tổng sản lượng cà phê sản xuất ra. Tuy vậy, với mức sống như hiện nay, hơn 300USD/người/năm thì nhu cầu của người dân đã được cải thiện do đó nhu cầu về tiêu thụ nông sản ở thị trường trong nước cũng sẽ tăng lên nghĩa là mức tiêu thụ nội địa sẽ tăng.
4. Tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam.
Có thể nhận xét rằng nhóm mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam đều có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng bình quân của thế giới và cao hơn nhiều so với các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan (ở mặt hàng gạo và cà phê), Indonexia về cà phê, cao su... kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam so với Thái Lan có xu hướng tăng từ dưới 30% (trước năm 1998) lên mức cao hơn trong năm 2000 nhưng với giá cả hạ hơn, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam so với ấn Độ cũng tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam so với Thái Lan cũng tăng mạnh nhưng tốc độ lại chậm hơn các sản phẩm khác từ 5,87% năm 1992 lên 13,6% năm 2000. Các số liệu đã chứng tỏ rằng mức chênh lệch mặt hàng gạo và cà phê được thích hợp nhiều nhất trong bốn mặt hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Điều đó cũng cho thấy rằng thời gian qua sức cạnh tranh xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ yếu của Việt Nam được cải thiện đáng kể, nhưng nếu đi sâu phân tích thì thực sự vẫn còn nhiều băn khoăn về tình hình xuất khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam.
Việt Nam chỉ có mặt hàng gạo là trội hơn hẳn còn các mặt hàng khác lại có sự chênh lệch khá lớn về số lượng so với các đối thủ cạnh tranh chính.
Bảng 1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản
chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2000.
TT
Năm
Sản lượng xuất khẩu (1000 tấn)
Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)
Gạo
Cà phê
Cao su
Chè
Gạo
Cà phê
Cao su
Chè
1
1990
1624
89,6
75,9
10,8
305
76,16
75,3
12,96
2
1991
1033
93,8
62,9
10,5
235
74
50
14
3
1992
1940
116,2
81,9
1,3
418
92
66,9
16
4
1993
1722
122,6
96,7
20,6
362
110,6
74,7
26
5
1994
1983
177
135,5
21,2
424
328,2
135,4
26,5
6
1995
2058
248,1
138,1
18,8
530
595,5
193,5
26,5
7
1996
3047
281,4
194,5
21
868
420
163,3
29
8
1997
3682
391,6
192
32,3
801
497,5
194,6
48
9
1998
3800
382
197
33,2
1100
593,8
127,5
50,5
10
1999
4500
487,5
265
37
1080
592
145
46
11
2000
3500
694
280
44,7
840
842,76
153,2
56
Nguồn: Tạp chí Kinh tế Việt Nam và thế giới 2000 - 2001.
Qua những số liệu trong bảng trên cho thấy các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều tăng do đó kéo theo nguồn thu ngoại tệ cũng tăng lên góp phần làm tăng cán cân thương mại và nguồn ngoại tệ của quốc gia, số liệu trên cũng cho thấy mặt hàng gạo và cà phê là có mức chênh lệch nhất trong 4 mặt hàng so với các đối thủ cạnh tranh.
Sau đây ta đi phân tích cụ thể mặt hàng cà phê - là mặt hàng có nguồn thu ngoại tệ lớn nhất so với các mặt hàng nông sản khác:
Có thể nói cà phê là thức uống mà được nhiều người ưa thích, là mặt hàng xuất khẩu ở nhiều thị trường và đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn.
Phân chia xuất khẩu theo thị trường.
Trước kia thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam chủ yếu là các nước thuộc khu vực I. Liên Xô là thị trường chính, khối lượng xuất của Việt Nam sang thị trường này là 55 - 56%. Từ cuối năm 1985 trở đi Việt Nam bắt đầu xuất sang các nước thuộc khu vực II. Thời kỳ này, Việt Nam chưa gia nhập Hiệp hội cà phê Quốc tế (ICO) nên việc xuất khẩu chỉ là xuất thử hay xuất qua trung gian, thường là Singapore với tỷ lệ 30 - 40% tổng sản lượng bằng 60% lượng xuất khẩu sang khu vực II với giá thấp và chất lượng không cao trong khi chất lượng yêu cầu của các nước tiêu thụ trực tiếp lại rất cao. Đến năm 1994 trở đi Việt Nam mới thâm nhập vào thị trường châu Âu, Nhật và Mỹ, giảm lượng xuất qua trung gian Singapore, nâng kim ngạch xuất khẩu lên đáng kể. Sự có mặt của cà phê Việt Nam trên thị trường Mỹ là chứng nhận cho nỗ lực to lớn của những nhà xuất khẩu Việt Nam.
Bảng 2. Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Đơn vị: Tấn
Niên vụ
Khu vực
1995 - 1996
1996 - 1997
1997 - 1998
1998 - 1999
Châu Mỹ
67.048
84.255
87.384
69.381
Châu á
45.045
32.248
45.943
28.564
Châu Phi
6.767
11.729
4.816
5.340
Châu Âu
94.982
189.048
243.297
278.125
Châu úc
6.913
7.038
8.839
15.483
Tổng cộng
220.755
324.318
390.279
396.893
Nguồn: Tạp chí Kinh tế phát triển số 125 tháng 3/2001.
Qua bảng số liệu trên cho thấy nếu như niên vụ 1995 - 1996 thị trường châu á nhập 45.045 tấn cà phê Việt Nam (chiếm 20,4%) tổng sản lượng xuất khẩu của Việt Nam), thị trường châu Âu nhập 94.982 tấn (tỷ lệ 43,03%) thì trong niên vụ 1998 - 1999 th

Lưu ý khi sử dụng

- Gặp Link download hỏng, hãy đăng trả lời (yêu cầu link download mới), Các MOD sẽ cập nhật link sớm nhất
- Tìm kiếm trước khi đăng bài mới

Chủ đề liên quan:
Kết nối đề xuất:
Learn Synonym
Advertisement